- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác nhận con cho cha"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn A :
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/HNGĐ-ST Ngày 09-02-2023 V/v tranh chấp xác định con cho cha |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Hồ Điệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Xuân Quyết
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 153/2022/TLST-HNGĐ ngày 21/6/2022 về việc tranh chấp xác định con cho cha theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 9 năm 2022 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 11/TB-TA ngày 09 tháng 01 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trương Văn A ; ĐKHKTT: Xóm 2, xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Số 50 Đê Quai Chảo, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- Bị đơn: Chị Phạm Diệu B; ĐKHKTT: Số 50 Đê Quai chảo, phường Sở Dầu, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: (Singabuyeong Apt, Sinchang-dong) 1804 ho, 103 dong, 287 Sudeung-ro, Gwangsan-gu Gwangju, Hàn Quốc; vắng mặt;
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Lee Min C; ĐKHKTT: 821 Yongma-ri, Hwangsan-myeon Gimje-si, Jeonbuk, Hàn Quốc; nơi ở hiện nay: (Singabuyeong Apt, Sinchang-dong) 1804 ho, 103 dong, 287 Sudeung-ro, Gwangsan-gu Gwangju, Hàn Quốc; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là anh Trương Văn A trình bày:
Anh Trương Văn A và chị Phạm Diệu B có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2018 và có con chung tên dự đặt là Trương Phạm Trà My, được chị B sinh ra vào ngày 15/4/2019 theo Giấy chứng sinh số 78 quyển số 09 ngày 15/4/2019 của Bệnh viện Quốc tế GREEN. Tuy nhiên, trong khi có quan hệ tình cảm với chị Phạm Diệu B, chị B vẫn là vợ hợp pháp của anh Lee Min C. Đến tháng 5/2019, chị B đã ly hôn với anh Lee Min C tại Tòa án Gia đình Gwangju, Hàn Quốc theo Trích lục ghi chú ly hôn số 249/TLGCLH ngày 07/8/2019 của Đại sứ quán Việt nam tại Hàn Quốc. Theo Luật hôn nhân và gia đình thì con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng hoặc có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng, tuy nhiên anh khẳng định cháu Trương Phạm Trà My (tên dự sinh) là con đẻ của anh và chị B. Anh và chị B đã tiến hành xét nghiệm ADN giữa cháu Trương Phạm Trà My (tên dự sinh) và anh A. Kết quả giải trình tự ADN ngày 30/11/2021 của Viện ứng dụng khoa học công nghệ DNA giữa anh Trương Văn A và cháu Trương Phạm Trà My, sinh ngày 15/4/2019 theo giấy chứng sinh số 78, quyển số 09, cấp ngày 15/04/2019 có quan hệ huyến thống cha - con.
Do vậy, anh yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xác định cháu Trương Phạm Trà My (tên dự đặt) được chị Phạm Diệu B sinh ra tại Bệnh viện Quốc tế Green - Sở Y tế Hải Phòng theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 09 ngày 15/4/2019 là con đẻ của anh Trương Văn A .
Tại bản tự khai, bị đơn là chị Phạm Diệu B trình bày như sau:
Chị và anh Trương Văn A có quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2018, nên anh chị có 1 con chung được chị sinh ngày 15/4/2019 theo Giấy chứng sinh số 78 quyển số 09 ngày 15/4/2019 của Bệnh viện Quốc tế GREEN. Tuy nhiên, trong khi có quan hệ tình cảm với anh Trương Văn A , chị B vẫn là vợ hợp pháp của anh Lee Min C. Đến tháng 5/2019, chị B đã ly hôn với anh Lee Min C tại Tòa án Gia đình Gwangju, Hàn Quốc theo Trích lục ghi chú ly hôn số 249/TLGCLH ngày 07/8/2019 của Đại sứ quán Việt nam tại Hàn Quốc. Theo Luật hôn nhân và gia đình thì con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng hoặc có thai trong thời kỳ đó là con chung của vợ chồng, tuy nhiên chị khẳng định cháu bé do chị sinh ngày 15/4/2019 tại Bệnh viện Quốc tế GREEN là con đẻ của chị và anh Trương Văn A . Do vậy chị yêu cầu Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xem xét, giải quyết xác định cháu Trương Phạm Trà My (tên dự đặt) được chị sinh ra tại Bệnh viện Quốc tế Green - Sở Y tế Hải Phòng theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 09 ngày 15/4/2019 là con đẻ của chị và anh Trương Văn A .
Đối với kết quả ủy thác cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lee Min C:
Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành ủy thác tư pháp thông qua Bộ Tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài để tống đạt thông báo thụ lý vụ án và nội dung câu hỏi yêu cầu anh Lee Min C trả lời để cung cấp thông tin cho Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án. Ngày 29/12/2022, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nhận được kết quả thực hiện ủy thác tư pháp của Bộ Tư pháp. Theo đó, Tòa án quận Gwangju không thực hiện được việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Lee Min C do địa chỉ không xác định. Sau đó, Tòa án đã có văn bản đề nghị đăng tải thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc và Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để thông báo về lịch mở lại phiên tòa cho anh Lee Min C.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 288.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xác định cháu Trương Phạm Trà My (tên dự đặt) được chị Phạm Diệu B sinh ra tại Bệnh viện Quốc tế Green - Sở Y tế Hải Phòng theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 09 ngày 15/4/2019 là con đẻ của chị và anh Trương Văn A . Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và về quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về việc xác định con cho cha. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lee Min C và bị đơn là chị Phạm Diệu B hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, nguyên đơn là anh Trương Văn A sinh sống tại Hải Phòng, theo quy định tại khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn là anh Trương Văn A và bị đơn là chị Phạm Diệu B có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Lee Min C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Do vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về việc xác định cha cho con: Theo lời khai của chị Phạm Diệu B và anh Trương Văn A đều thống nhất thể hiện: Bé gái tên dự đặt là Trương Phạm Trà My được chị Phạm Diệu B sinh ngày 15/4/2019 tại Bệnh viện Quốc tế GREEN theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 09 ngày 15/4/2019 là con chung của anh chị. Tại Kết quả giải trình tự ADN ngày 30/11/2021 của Viện ứng dụng khoa học công nghệ DNA giữa anh Trương Văn A và cháu Trương Phạm Trà My, sinh ngày 15/4/2019 theo giấy chứng sinh số 78, quyển số 09, cấp ngày 15/04/2019 có quan hệ huyến thống cha - con, với độ tin cậy 99,999999%.
Xét thấy có đủ cơ sở xác định cháu Trương Phạm Trà My do chị Phạm Diệu B sinh ra là con đẻ của anh Trương Văn A , căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn A .
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, anh Trương Văn A đồng ý sẽ nộp tiền án phí thay chị Phạm Diệu B nên số tiền án phí được đối trừ với số tiền tạm ứng án phí anh A đã nộp. Anh A phải chịu chi phí ủy thác tư pháp theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; điểm c khoản 6 Điều 477; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 88, Điều 89, Điều 91, Điều 101 và Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trương Văn A :
Xác định cháu Trương Phạm Trà My (tên dự đặt) được chị Phạm Diệu B sinh ngày 15/4/2019 tại Bệnh viện Quốc tế Green - Sở Y tế Hải Phòng theo Giấy chứng sinh số 78, quyển số 09 ngày 15/4/2019 là con đẻ của anh Trương Văn A .
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Trương Văn A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm thay chị Phạm Diệu B nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000245 ngày 06 tháng 01 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Trương Văn A phải chịu 200.000 đồng chi phí ủy thác tư pháp nhưng được trừ vào số tiền 200.000 đồng tạm ứng chi phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000483 ngày 20 tháng 5 năm 2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Anh Trương Văn A đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp.
3. Về quyền kháng cáo:
Anh Trương Văn A và chị Phạm Diệu B (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Anh Lee Min C (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND TP Hải Phòng;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Cục THADS TP Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
Đặng Hồ Điệp CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Mạnh Hùng Đỗ Xuân Quyết
Đặng Hồ Điệp
| Nơi nhận: - VKSND TP Hải Phòng; - Cục THADS TP Hải Phòng; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Hồ Điệp |