- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ông Đinh Triệu L khởi kiện bà Nguyễn Bích N về hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Triệu L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2023/DS-ST Ngày 12/6/2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Toàn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thân Văn Bình.
2. Bà Nguyễn Thị Cương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa- Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên (Viện kiểm sát có Thông báo số 553/CV-VKS ngày 17/5/2023 về việc Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa do xác định Tòa án nhân dân huyện Yên Thế không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ gì).
Trong ngày 12 tháng 6 năm 2023, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 185/2022/TLST-DS ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đinh Triệu L, sinh năm 1970; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh B- Có mặt
- Bị đơn: Bà Nguyễn Bích N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh B- Vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị L, sinh năm 1976 (vợ ông L); Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh B; Bà L ủy quyền cho ông Đinh Triệu L (văn bản ủy quyền ngày 28/11/2022)- Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn (ông Đinh Triệu L) trình bày:
Ông có quen biết từ lâu với bà Nguyễn Bích N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh B. Ngày 07/8/2020 bà N có hỏi vay ông số tiền 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) về để kinh doanh, thỏa thuận không lấy lãi, thời hạn vay 180 ngày. Khi vay không có ai chứng kiến nhưng khi viết giấy vay tiền bà N có điền tên mẹ đẻ là bà Vũ Thị B, thực tế bà B không có mặt. Khi hết thời hạn vay, ông L có đòi nhiều lần nhưng bà N cứ khất lần không trả.
Nay ông xác định bà N còn nợ ông số tiền gốc là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), lãi chậm trả tính từ ngày 07/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng); tổng cả gốc và lãi là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.
Bị đơn (bà Nguyễn Bích N): Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và cũng không gửi ý kiến, văn bản đến Tòa án, vì vậy không có lời khai trong hồ sơ. Tòa án đã giao trực tiếp các thông báo, giấy triệu tập, bà N đã nhận thông báo, giấy triệu tập của Tòa án nhưng vẫn không có văn bản, ý kiến phản hồi gì về việc ông L có đơn khởi kiện đối với bà N.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà Phạm Thị L) trình bày: Bà đồng ý với ý kiến của ông Đinh Triệu L- chồng bà.
Tại phiên toà, do Viện kiểm sát có Thông báo số 553/CV-VKS ngày 17/5/2023 về việc Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa vì xác định Tòa án nhân dân huyện Yên Thế không tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ gì nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế không tham gia phiên tòa. Vì vậy, không có phát biết của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án cũng như về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Bích N là bị đơn đã được Toà án triệu tập, thông báo thụ lý vụ án, thông báo hoà giải hợp lệ đến lần thứ hai và đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ 2 nhưng đương sự vẫn vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự có tên nêu trên.
Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2022 của ông Đinh Triệu L đây xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản, quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ tranh chấp:
.1. Ông Đinh Triệu L và bà Nguyễn Bích N tự nguyện thỏa thuận cho nhau vay tiền theo hợp đồng vay đề ngày 07/8/2020, được xác nhận là hợp đồng hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
.2. Xét yêu cầu của ông Đinh Triệu L yêu cầu bà Nguyễn Bích N phải trả số tiền vay gốc là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), thấy rằng: Ông L xác định sau khi ký kết hợp đồng vay tài sản ông L đã giao đủ cho bà N tổng số tiền là 40 triệu đồng, bà N đã nhận đủ tiền vay. Theo thỏa thuận, đến hạn ông L đã yêu cầu bà N thu xếp trả tiền cho ông L nhưng bà N chỉ khất nợ, không trả được cho ông số tiền nào.
Đối với bà N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án để làm việc cũng như không có văn bản, ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình là tự tước bỏ đi quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định cho bà N được thực hiện, vì vậy hậu quả của việc bà N không bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà N phải gánh chịu.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 93 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì tình tiết “một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, xác định việc bà N còn nợ của ông L số tiền vay gốc là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) là có căn cứ, cần buộc bà N phải có trách nhiệm thanh toán trả ông L, bà L số tiền này.
.3. Xét yêu cầu của ông Đinh Triệu L yêu cầu bà Nguyễn Bích N phải trả số tiền lãi phát sinh trên số tiền vay gốc 40 triệu đồng tính từ ngày bà N chậm trả theo thỏa thuận của hợp đồng là ngày 07/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm là 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng); tại phiên toà ông L thay đổi yêu cầu về việc tính lãi, yêu cầu bà N phải thanh toán tiền lãi theo quy định của pháp luật, thấy rằng: Đối với số tiền bà N vay của ông L ở hợp đồng vay ngày 07/8/2020, trong hợp đồng thể hiện không tính lãi, thời hạn của hợp đồng là 180 ngày nên xác định là hợp đồng vay có kỳ hạn và không lãi suất. Vì vậy, trong thời hạn của hợp đồng không phát sinh tiền lãi. Hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng do bà N không thanh toán trả cho ông L được số tiền vay gốc nào nên bà N phải chịu lãi suất chậm trả trên số nợ gốc để thanh toán trả cho ông L tính kể từ sau ngày hết hạn thỏa thuận trong hợp đồng là ngày 04/2/2021, tuy nhiên ông L yêu cầu bà N phải thanh toán lãi chậm trả tính kể từ ngày 07/02/2021 là tự nguyện, cần được chấp nhận. Lãi suất chậm trả được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 là 10%/1 năm. Do đó, bà N phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quá hạn là 10%/1 năm tương ứng với số tiền và thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ theo yêu cầu của ông L là từ ngày 07/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm. Số tiền lãi của hợp đồng vay được xác định cụ thể là:
+ Số tiền gốc 40.000.000đ, lãi tính từ ngày 07/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm: 12/6/2023 là 28 tháng 05 ngày, số tiền lãi là {(40.000.000đ x 10% x 28 tháng : 12 = 9.333.300đ) + (40.000.000đ x 10% : 12 x 05 ngày : 30 = 55.600đ)}= 9.388.900đ (Chín triệu ba trăm tám mươi tám nghìn chín trăm đồng).
Như vậy, số tiền bà N còn nợ của ông L tiền vay gốc, tiền lãi quá hạn của hợp đồng được xác định là: 9.388.900đ + 40.000.000đ= 49.388.900đ (Bốn mươi chín triệu ba trăm tám mươi tám nghìn chín trăm đồng), cần buộc bà Nguyễn Bích N phải có nghĩa vụ thanh toán trả cho ông Đinh Triệu L và bà bà Phạm Thị L.
. Về án phí: Yêu cầu của ông Đinh Triệu L được chấp nhận, vì vậy ông Đinh Triệu L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Bích N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 275; 463, 466, 469; khoản 2 Điều 357của Bộ luật dân sự; Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 271; Điều 273; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh Triệu L.
Buộc bà Nguyễn Bích N phải có nghĩa vụ thanh toán trả ông Đinh Triệu L và bà Phạm Thị L số tiền còn nợ là: 49.388.900đ (Bốn mươi chín triệu ba trăm tám mươi tám nghìn chín trăm đồng), trong đó tiền gốc là 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng), tiền lãi là 9.388.900đ (Chín triệu ba trăm tám mươi tám nghìn chín trăm đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Bích N phải chịu 2.469.400đồng (Hai triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Đinh Triệu L không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông L số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009007 ngày 19/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thế.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án vắng mặt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Bắc Giang -VKSND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Thế; - Các đương sự; - Chi cục thi hành án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Toàn |