- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN HÔN NHÂN GIA ĐÌNH TRÀ - LUÂN LY HÔN"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận việc thuận tình ly hôn của chị Võ Thị T anh Nguyễn Viết L.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG KHÊ TỈNH HÀ TĨNH ơ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST Ngày: 07/12/2022 V/v “Xin ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Trọng Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngạch và Ông Nguyễn Quốc Thảo.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Bích Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Huơng Khê, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Không.
Ngày 07/12/2022, tại Hội trường xét xử số 1, Toà án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2022/TLST-HNGĐ ngày 13/10/2022 về việc “Xin ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/11/2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn S, xã N, huyện N, tỉnh N (có mặt).
- Anh Nguyễn Viết L, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn 12, xã H, huyện H, tỉnh H (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn chị Võ Thị Trà trình bày:
Về tình cảm: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Viết L đăng ký kết hôn vào ngày 12/8/2020, tại UBND xã H, huyện H, tỉnh H. Trên cở sở tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, lí do mâu thuẫn là vì vợ chồng không hiểu tính nhau, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không có yêu thương gúp đỡ nhau trong cuộc sống hàng ngày. Mặc dù chị T đã cố gắng duy trì cuộc sống hôn nhân nhưng không thế chung sống với nhau được, chị T cảm thấy mục đích hôn nhân không đạt được tình nghĩa vợ chồng không còn. Vì vậy chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Viết L.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung; Nguyễn Viết K, sinh ngày 18/3/2021; vì con còn nhỏ, con còn dưới 36 tháng tuổi nên chị T có nguyện vọng nhận trực tiếp nuôi con chung, việc cấp dưỡng nuôi con tùy thuộc anh L, nếu anh L không đồng ý cấp dưỡng, thì chị Trà cũng không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có tài sản chung nên yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Viết L trình bày: Anh L thừa nhận về thời gian, địa điểm kết hôn, quả trình chung sống đúng như lời trình bày của chị T. Vợ chồng sống với nhau hơn nữa năm thì xẩy ra mâu thuẫn, dẫn đến bất đồng quan điểm, không thế hòa thuận được chị T bỏ về sống bên ngoại, dẫn đến chị T làm đơn ly hôn. Quả trình giải quyết và hòa giải tại Tòa án, anh L đồng ý thuận tình ly hôn, không yêu cầu giải giải quyết về tài sản nhưng không đồng ý để chị T trực tiếp nuôi con chung, buộc Tòa án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Tại Phiên tòa anh L vẫn giữ nguyên ý kiến, đồng ý ly hôn với chị T, không yêu cầu giải giải quyết về tài sản, đề nghị giải quyết được nhận quyền nuôi con chung.
Ý kiến của vị đại diện VKSND huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Võ Thị T có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê giải quyết ly hôn, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Viết L có địa chỉ cư trú tại xóm 12, xã H, huyện H nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.
Về quan hệ vợ chồng: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Viết L kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức đăng ký kết hôn tại UBND xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh L là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống nên dẫn đến mâu thuẫn, mất lòng tin với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc mất tình cảm vợ chồng, sống không đem lại hạnh phúc cho nhau nên chị T đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở tại thôn S, xã N, huyện N, tỉnh N vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy suốt một thời gian dài vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Việc chị T làm đơn xin ly hôn anh L là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ, phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên HĐXX chấp nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị Võ Thị T và anh Nguyễn Viết L.
Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Nguyễn Viết K, sinh ngày 18/3/2021. Chị T và anh L đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con cho đến khi con đủ 18 tuổi, tuy nhiên hiện tại con chung của vợ chồng đang còn dưới 36 tháng tuổi. Xét thấy việc chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con là chính đáng, đảm bảo đầy đủ điều kiện về mọi mặt để nuôi con. Phù hợp với thực tế. Vì vậy, HĐXX căn cứ vào Điều 58; khoản 1, khoản 3 Điều 81; khoản 1, khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên giao con cho chị T nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Chị T không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét. Anh L có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cấm theo quy định tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng chưa có tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Chị Võ Thị T nhận chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Khoản 1, 3 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Chấp nhận việc thuận tình ly hôn của chị Võ Thị T anh Nguyễn Viết L.
2. Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Viết K, sinh ngày 18/3/2021 cho chị Võ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Viết L được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản và anh L không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, chị T đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0007884, ngày 12/10/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hương Khê, nay không phải nộp nữa.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Hương Khê; - Các đương sự; - UBND xã Hòa Hải; - Chi cục THADS huyện Hương Khê; - Lưu hồ sơ +VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Trọng Hùng |