- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 170 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẮC NINH Bản án số: 27/2022/HSST Ngày 25/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Cây.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Dũng, ông Nguyễn Đăng Dũng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa, Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lâm, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2022/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2022/QĐXX-HSST ngày 12 tháng 4 năm 2022 đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H, sinh năm 1990.
Tên gọi khác: Bùn. Giới tính: Nam.
Nơi cư trú và HKTT: Thôn Điện Tiền, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 8/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố đẻ: Nguyễn Văn Chấn, sinh năm 1966. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Thinh, sinh năm 1966. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Vợ: Đỗ Thị Tâm, sinh năm 1993. Con có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền sự: Không
Tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án số 19/2018/HSST ngày 22/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và bồi thường dân sự số tiền 3.000.000 đồng. Ngày 06/6/20218, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 04/9/2018, chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo chưa chấp hành xong bồi thường dân sự.
Nhân thân:
Tại bản án số 44/2007/HSST ngày 18/9/2007 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh H Yên xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 138 Bộ Luật hình sự năm 1999.
Tại bản án số 30/2007/HSST ngày 06/11/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 248 Bộ Luật hình sự năm 1999 và 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 140 Bộ Luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt buộc H phải chấp hành chung cả hai tội là 12 tháng tù. Tổng hợp với 06 tháng tù của bản án số 44 ngày 19/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh H Yên buộc H phải chấp hành chung cả hai bản án là 18 tháng tù. Đã được xóa án tích.
Ngày 07/01/2013, bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh ra Quyết định đưa vào cơ sở giáo dục Thanh Hà trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 09/01/2015, chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2021 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh (có mặt tại phiên toà).
Bị hại: Anh Tạ Huy H, sinh năm 2000. (có mặt)
Địa chỉ: Thôn Kim Tháp, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh
Người có Qu lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh H Hữu Phong, sinh năm 2000.
(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Thư Đôi, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
2. Anh Vũ Đăng Q, sinh ngày 12/8/2003.
(có mặt)
Địa chỉ: Xóm Luỹ, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
3. Anh Ngô Huy Qu, sinh ngày 4/6/2003. (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 5, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
4. Anh Tạ Huy Th, sinh năm 1998.
(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Kim Tháp, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Người làm chứng:
Anh Tạ Huy Th, sinh năm 1998.
(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Kim Tháp, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Ngô Huy Qu, sinh năm 2003 ở tại thôn 5, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, các anh Vũ Đăng Q, sinh năm 2003, anh Nguyễn Hữu Công, sinh năm 2002 đều trú tại Xóm Lũy, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành và anh Tạ Huy H, sinh năm 2000 trú tại thôn Kim Tháp, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh là bạn bè quen biết và chơi với nhau.
Tối ngày 16/9/2021 anh Q, anh Qu, anh Công và anh H gặp nhau ở nhà văn hoá thôn 5. Quá trình nói chuyện, anh H hỏi vay 1.600.000 đồng của anh Q hẹn ngày 25/9/2021 thì trả, anh Q đồng ý. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H lại nhắn tin qua facebook hỏi vay thêm 1.500.000 đồng nH anh Q không đồng ý. Sau đó H hỏi vay nhiều lần thì anh Q bảo anh H bán lại chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen bản 32GB của anh H cho anh Q với giá 3.100.000 đồng và anh Q sẽ chuyển nốt số tiền 1.500.000 đồng cho anh H, H đồng ý. Sau đó, anh Q hỏi anh Nguyễn Duy Th, sinh năm 1985 cho vay 1.500.000 đồng và nhờ anh Th chuyển số tiền này vào tài khoản của anh H. Sau khi chuyển tiền xong, anh Q bảo anh H chiều ngày 17/9/2021 đưa điện thoại cho anh Công cầm về hộ anh Q, H đồng ý. NH sau đó H không bán điện thoại nữa và gọi điện thông báo cho anh Q biết và nói sẽ trả tiền cho anh Q, anh Q đồng ý. Khoảng mấy ngày sau, anh Q không thấy anh H trả tiền nên anh Q nhắn tin cho anh H. H đồng ý và hẹn anh Q ngày 25/9/2021 sẽ trả nH sau đó H vẫn không trả.
Cũng trong ngày 16/9/2021, anh H hỏi vay 6.000.000 đồng của anh Qu và bảo anh Qu chuyển tiền vào tài khoản cho anh H, anh Qu đồng ý. Sau khi nhận được tiền của anh Qu, H hẹn hai ngày sau sẽ đưa tiền cho anh Công để anh Công đưa cho anh Qu nH sau đó anh H không đưa và tiếp tục khất nợ đến ngày 10/12/2021 sẽ trả cho anh Qu.
Do anh Qu cần tiền, còn anh Q không thấy anh H trả tiền nên ngày 22/11/2021, anh Qu và anh Q đã rủ nhau đến thôn Kim Tháp tìm nhà H để đòi tiền. Khi đến thôn Kim Tháp, anh Q và anh H gặp Nguyễn Văn H, sinh năm 1990, trú tại thôn Điện Tiền, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nên đã hỏi thăm nhà anh H nH H không biết. Tại đây, qua nói chuyện, H biết được việc anh Q và anh Qu đến tìm anh H để đòi tiền nên H đã đặt vấn đề đòi nợ thuê cho anh Q và anh Qu, thỏa thuận nếu H đòi được tiền thì anh Q và anh Qu sẽ trả cho H 1.000.000 đồng. Cả hai đều đồng ý, sau đó anh Q xin số điện thoại của H rồi cùng anh Qu đi về nhà.
Đến ngày 24/11/2021, anh Q gọi điện cho H bảo H đến gặp anh H đòi tiền, đồng thời cho H tài khoản facebook của anh H. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Bảo H” nhắn tin đến tài khoản facebook “Tạ Huy H” của anh H tự giới thiệu tên là Bùn ở thôn Điện Tiền, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh và nói với anh H về việc anh Q và anh Qu nhờ H đòi hộ tiền thì anh H nói đang làm ở công ty không ra gặp H được. Sau đó, anh H và H hẹn 22 giờ cùng ngày gặp nhau để nói chuyện. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H đi bộ một mình đến nhà anh Tạ Huy Th, sinh năm 1998 ở cùng thôn với anh H để nhờ anh Th đưa sang nhà anh H. Anh Th đồng ý. Khi đến nhà anh H gặp được anh H, H bảo anh H sang nhà anh Th để nói chuyện, anh H đồng ý. Khi vào phòng khách nhà anh Th, H vừa nói vừa chỉ tay về phía mặt anh H “Thế tiền mày lừa Q và Qu bao giờ trả” thì H trả lời “em hẹn chúng nó đến 10/12/2021 trả”. H chửi “ĐM mày hẹn chúng nó quá nhiều lần rồi thì chúng nó không tin mày và bảo tao đòi hộ”. Sau đó, H đọc số điện thoại 0987.864.184 bảo anh H đăng nhập zalo của H bằng điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen, bản 32GB của anh H rồi gọi điện cho anh Q. Khi Q nghe máy, H bật loa to và hẹn ngày 10/12/2021 anh H sẽ trả tiền nH Q không đồng ý vì H đã thất hứa nhiều lần, đồng thời anh Q nói việc nợ tiền của anh H với Q và Qu sẽ giao cho H đòi. Nghe vậy, H bảo anh H đưa điện thoại cho H nói chuyện với anh Q và hỏi “Phải thằng này không”. Anh Q trả lời “Phải” rồi tắt máy. Lúc này, anh Th cũng có mặt ở phòng khách và chứng kiến sự việc trên. Sau đó, anh Th đi vào trong phòng ngủ. Còn anh H và H ở phòng khách nói chuyện. Sau đó, anh H bảo H trả điện thoại cho anh H nH H không trả và tiếp tục yêu cầu anh H trả tiền. Khi thấy anh H vung tay lên giằng điện thoại trên tay H thì H dùng tay phải cầm 01 chiếc điếu cày bằng Inox, màu trắng dài 54 cm, đường kính 4 cm ở phòng khách nhà anh Th, cạnh vị trí H đang đứng dơ lên chỉ về phía trước ngực của anh H nói “ĐM mày có trả tiền không, mày đừng lươn lẹo”. H trả lời "Bây giờ trong người em không có tiền để một hai hôm nữa em trả” nH H không đồng ý vẫn bắt H trả tiền ngay. Do sợ nên anh H không đòi điện thoại nữa mà đi ra cổng nhà anh Th và chửi H “ĐM mày, cứ đứng đấy chờ bố mày”. Lúc này, H chạy đuổi theo ra cổng chửi anh H “Đm mày cứ đứng lại đấy, mày định bảo ai ở làng Tháp ra đánh tao”. H đứng chờ ở cổng nhà anh Th khoảng 10 phút nH không thấy anh H quay lại nên H cầm chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen, bản 32GB của anh H đi về. Trên đường về, H gọi điện thông báo cho anh Q biết việc H không đòi được tiền và nói “Anh cầm điện thoại của anh H”, ý nói H đã lấy được chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen, bản 32GB của anh H (nH không nói cho anh Q biết làm cách nào để lấy điện thoại của anh H). Nghe vậy, anh Q bảo với H “Ngày mai em xuống”.
Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 25/11/2021, anh Q đến nhà H. Tại đây, H đưa điện thoại của anh H cho Q nH anh Q không cầm mà bảo H tiếp tục đòi tiền của anh H, H đồng ý. Sau đó, do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 08 giờ ngày 26/11/2021, H đã mang chiếc điện thoại Iphone 7 Plus, màu đen bản 32GB của anh H đến cửa hàng điện thoại của anh H Hữu Phong, sinh năm 2000, trú tại thôn Thư Đôi, xã Nguyệt Đức, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cầm cố cho anh Phong với số tiền 1.000.000 đồng. Do anh Phong không nhận cầm cố nên H hỏi vay 1.000.000 đồng của anh Phong và để lại điện thoại đã lấy của H để làm tin, anh Phong đồng ý. Đến buổi tối cùng ngày, H đến hỏi vay thêm 500.000 đồng nữa. Sau đó, H đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 1.500.000 đồng.
Anh H nhiều lần nhắn tin bảo H trả điện thoại nH H không trả. Vì vậy, ngày 30/11/2021, anh H đã làm đơn trình báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành. Cùng ngày 30/11/2021, sau khi biết chiếc điện thoại Iphone 7 plus, màu đen, bản 32GB mà H đưa cho anh Phong khi hỏi vay tiền là do H phạm tội mà có nên anh Phong đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành để phục vụ điều tra.
Ngày 01/12/2021, H đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành đầu thú và khai báo hành vi phạm tội.
Ngày 30/11/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành ra yêu cầu định giá tài sản số 178 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Thành định giá 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, bản 32GB tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 24/11/2021. Tại Kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐG ngày 30/11/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thuận Thành kết luận: 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, bản 32GB, tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 4.300.000 đồng.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSTT ngày 16/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ Luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cưỡng đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội. Đối với bị hại là anh H cũng như các anh Qu, anh Q đều khai đúng với nội dung như đã khai tại Cơ quan điều tra. Về trách nhiệm dân sự anh H, anh Qu và anh Q không có yêu cầu gì.
Trong phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành thực hành Qu công tố tại phiên toà trình bày bản luận tội. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 48 Bộ Luật hình. Điều 463; Điều 466 của Bộ Luật dân sự, xử phạt Nguyễn Văn H từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2021. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự do anh H, anh Q và anh Qu không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Buộc bị cáo phải trả lại anh H Hữu Phong số tiền 1.500.000 đồng đã vay.
Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo H 01 điện thoại Samsung Galaxy A9S có vỏ bọc ngoài màu xanh nH tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu huỷ 01 điếu cày bọc Inox bên ngoài màu trắng dài 54cm, đường kính 4cm.
Bị cáo H nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Anh H cũng không có ý kiến tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Anh Qu, anh Q không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo H đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù lợp với lời khai của bị hại, người có Qu lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Với mục đích đòi nợ thuê cho anh Q và anh Qu nên khi gặp anh H ở nhà anh Tạ Huy Th, bị cáo H đã có hành vi chửi bới đe doạ, bị cáo cũng đã dùng điếu cày đe doạ dùng vũ lực để chiếm đoạt của anh Tạ Huy H 01 điện thoại 01 Iphone 7 Plus màu đen bản 32GB có trị giá là 4.300.000 đồng. Hành vi đe doạ dùng vũ lực lực của H để chiếm đoạt tài sản có giá trị 4.300.000 đồng của anh H đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ Luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến Qu sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn xâm phạm đến Qu nhân thân, gây hoang mang, lo sợ cho anh H, gây mất trật tự trị an, an ninh trên địa bàn. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tích chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục chung, cải tạo riêng.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
Tại bản án số 19/2018/HSST ngày 22/3/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành xử phạt 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù và chấp hành xong án phí nH bị cáo chưa chấp hành việc bồi thường dân sự nên bị cáo chưa được xóa án tích. Lần phạm tội lần này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ Luật hình sự. Mặt khác bị cáo tháng 7/2007 cũng đã bị Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh H Yên kết án 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 11/2007 bị Toà án nhân dân huyện Thuận Thành kết án 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tháng 01/2013 bị cáo bị Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục trong thời hạn 24 tháng về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Các bản án và Quyết định xử phạt hành chính này tuy đã được xoá án tích, được coi là hết tiền sự nH điều này chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, khó cải tạo. Do vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, xử phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tích chất, mức độ phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo sau khi nhận thức được hành vi phạm tội của mình đã đến cơ quan điều tra đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên toà bị hại là anh H có đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt nên Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ Luật hình sự, đây là những tình tiết để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Ngoài hình phạt chính điều luật còn quy định có thể áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo điều kiện kinh tế cũng có khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Tạ Huy H đã nhận lại điện thoại mà H đã chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.
Liên quan đến vụ án có: Đối với số tiền 3.100.000 đồng mà anh H đã mượn của anh Q, anh H đã trả lại và anh Q cũng không có yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 6.000.000 đồng anh H vay của anh Qu, anh H cũng đã trả lại anh Qu và anh Qu không có yêu cầu gì nên cũng không xem xét giải quyết. Đối với số tiền 1.500.000 đồng mà H vay của anh Phong, nay anh Phong có yêu cầu H phải trả lại nên cần chấp nhận, buộc H phải trả lại anh Phong số tiền 1.500.000 đồng đã vay.
. Tang vật vụ án: 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen bản 32GB mà bị cáo H chiếm đoạt của anh H, Cơ quan điều tra đã trả lại anh H nên không xem xét giải quyết. Trả lại bị cáo 01 điện thoại Samsung Galaxy A9S có vỏ bọc ngoài màu xanh đã thu giữ của bị cáo H nH tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Do chiếc điếu cày bọc Inox bên ngoài màu trắng dài 54cm, đường kính 4cm mà Cơ quan điều tra đã tạm giữ của anh Tạ Huy Th cũng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/4/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ Luật hình sự. Điều 463; Điều 466 của Bộ Luật dân sự. Điều 106; Điều 136; Điều 329 Bộ Luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử.
1. Xử phạt Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2021.
Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án 25/4/2022 để đảm bảo thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo H phải trả lại cho anh H Hữu Phong số tiền 1.500.000 đồng đã vay.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án bên phải thi hành còn phải chịu lãi suất theo lãi suất được quy định tại Điều 468 của Bộ Luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp quyết định, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Qu thoả thuận thi hành án, Qu yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Về vật chứng của vụ án: Trả lại bị cáo H 01 điện thoại Samsung Galaxy A9S có vỏ bọc ngoài màu xanh đã qua sử dụng nH tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Tịch thu tiêu huỷ 01 điếu cày bọc Inox bên ngoài màu trắng dài 54cm, đường kính 4cm (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/4/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh).
4. Án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về Qu kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có Qu lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có Qu kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có Qu lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có Qu kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
| Nơi nhận -TAND tỉnh Bắc Ninh. -VKSND tỉnh Bắc Ninh. -VKSND huyện Thuận Thành. -Công an huyện Thuận Thành. -Chi cục THA dân sự huyện Thuận Thành. -Những người tham gia tố tụng. -Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa. Nguyễn Sỹ Cây |