- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ph Nguyễn B D, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THUẬN N TỈNH B THU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HSST Ngày 05/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H THUẬN N, TỈNH BÌNH THU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông La Minh Công
2. Ông Nguyễn Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H Thuận N, tỉnh Bình Th xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 01/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2022 và Thông báo hoãn phiên tòa số 02/2022/TB-HPT ngày 08 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Phan Ng Bảo D, sinh năm: 1997, tại Bình Thuận; nơi cư trú: thôn Ph Mỹ, xã Hàm Mỹ, huyện H Th Nam, tỉnh B Thuận; nghề nghệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ph Trần Bảo Tr và bà Ngu Thị Ý T; vợ con: chưa có; tiền án: ngày 19/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện H Thuận N, tỉnh Bình Thu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 20/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 30/01/2021. Đến nay chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/9/2021, bị Tòa án nhân dân huyện H Thuận N, tỉnh Bình Th xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 66/2021/HSST ngày 15/9/2021. Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù theo Quyết định thi hành án phạt tù số 76/2021/QĐ-CA ngày 18/10/2021 tại bản án hình sự sơ thẩm số 66/2021/HSST ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện H Thuận N.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
Ông Pha Văn Tr, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Số 3 Ng Trãi, phường 4, thành phố T Ni, tỉnh T Ninh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn H Kh – sinh năm: 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: số 45 Th Khoa Huân, phường Phú Th, thành phố Ph Thiết, tỉnh Bình Th.
2. Bà Ng Thị Ý T - sinh năm: 1977 (có mặt)
Nơi cư trú: thôn Phú M, xã Hàm M, huyện H Thuận Na, tỉnh Bình Th.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 01/5/2021, Ph Nguyễn Bảo D đang ở nhà thuộc thôn Phú M, xã Hàm M, huyện Hàm Thuận N thì có đối tượng tên H (hiện không xác định được nhân thân lai lịch), gọi điện thoại rủ D đi tìm tài sản để trộm cắp lấy tiền tiêu xài thì D đồng ý. Khoảng 10 phút sau, H điều khiển xe mô tô hiệu Exciter (không rõ biển kiểm soát) đến nhà D rồi chở D theo hướng thành phố Ph Thiết đi thành phố H Chí M để trộm cắp tài sản. Khi đến khu phố Lập H, thị trấn Thuận N, huyện Hàm Thuận N, cả hai phát hiện 01 xe ô tô biển kiểm soát 51H-239.36 do Ph Xuân Tr (sinh năm 1992, trú số 3 Nguyễn Trãi, phường 4, thành phố T Ninh, tỉnh T Ninh) điều khiển, đang đỗ ở phía bên phải đường theo hướng thành phố Phan Thiết đi thành phố H Chí M, đầu xe hướng về thành phố Hồ Chí Mi. Thấy vậy, H dừng xe mô tô ở sau đuôi xe ô tô, cách khoảng 10m. Sau đó, D xuống xe đi bộ lại gần, rồi mở cửa phía trước bên phụ của xe ô tô và lấy trộm 02 điện thoại (gồm 01 điện thoại Iphone XSMAX, 01 điện thoại Iphone 11) và 01 ba lô màu đen. Sau khi, lấy trộm được tài sản, Huy điều khiển xe mô tô chở D chạy về hướng thành phố Ph Th. Khi chạy cách hiện trường khoảng 500m, H điều khiển xe chạy vào đường đất bên cạnh cây xăng Km28, cách quốc lộ 1A khoảng 200m thì cả hai dừng xe lại. Tại đây, D kiểm tra và thấy trong ba lô không có gì nên vứt ba lô tại đây. Sau đó, Huy chở D về nhà, H nói D mang 02 điện thoại trên đi tiêu thụ. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, D gọi điện thoại cho Ng Huy Kh (sinh năm 1992, trú phường Phú Th, thành phố Ph Thiết, tỉnh Bình Thuận) để bán điện thoại Iphone 11 và nhờ Khánh sửa điện thoại Iphone XSMAX để sử dụng và nói Kh điều khiển xe đến nhà D để lấy. Tại nhà D nói với Kh cả 02 điện thoại trên là của Duy nên Kh đồng ý mua Iphone 11 với giá 5.000.000 đồng và sửa Iphone XSMAX cho D, nhưng vì không mang tiền nên Kh chưa đưa tiền cho D. Sau đó, Kh mang 02 điện thoại trên về nhà Khá ở Phan Th. Đến ngày 02/5/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Th Na đã làm việc với Kh và Kh đã tự nguyện giao nộp các tài sản.
Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 điện thoại Iphone XSMAX màu đen loại 64GB;
- 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh rêu loại 64GB.
Đối với 01 ba lô mà D và H đã lấy trộm của Pha Xuân Tr. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành tổ chức truy tìm tang vật, tuy nhiên kết quả không tìm được.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/2021-HĐĐG ngày 29/7/2021 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- 01 điện thoại Iphone XSMAX (64GB) có giá trị: 9.600.000 đồng
- 01 điện thoại Iphone 11 (64GB) có giá trị: 13.800.000 đồng
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 23.400.000đ (hai mươi ba triệu bốn trăm nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản bao gồm 01 điện thoại Iphone XSMAX và 01 điện thoại Iphone 11 cho ông Ph Xu Tr.
Về dân sự: Đại diện bị cáo là bà Ng Thị Ý T đã bồi thường số tiền 150.000 đồng để khắc phục thiệt hại chiếc ba lô cho ông Ph Xuân Tr. Ngoài ra, bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Đối với 01 ba lô mà bị cáo D đã trộm cắp của ông Ph Xuân Tr: cơ quan điều tra tổ chức truy tìm tang vật, tuy nhiên kết quả không tìm được. Ngoài ra, bị hại không cung cấp được các hóa đơn, chứng từ khi mua chiếc ba lô trên, do đó không có căn cứ xác định giá trị chiếc ba lô trên. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị hại xác định được: chiếc ba lô trên được bị hại mua vào tháng 2/2019 với giá 150.000 đồng, bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc ba lô trên và đã bồi thường cho bị hại số tiền 150.000 đồng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với chiếc ba lô trên với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 150.000 đồng.
Đối với Ng Huy Kh: khi nhận 02 điện thoại trên từ bị cáo Duy, Kh không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có được. Do đó, không có căn cứ để xử lý.
Đối với đối tượng tên H: đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này, nên sẽ tiến hành xác minh làm rõ, xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS ngày 17/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Phan Ng Bảo D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Ph Nguyễn Bảo D, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Ph Nguyễn Bảo D từ 18 đến 24 tháng tù.
Tổng hợp hình phạt của bản án số 66/2022/HSST ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam.
Về trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và đã bồi thường xong nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện H Thuận N, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận N, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt tại phiên tòa người bị hại ông Ph Văn Tr và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ng Huy Kh vắng mặt. Tòa án đã triệu tập hợp lệ những người này nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, lời khai của những người này đã thể hiện đầy đủ trong hồ sơ vụ án và phù hợp với lời khai của bị cáo những người tham gia tố tụng khác và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nên việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[3] Tại phiên tòa bị cáo Ph Nguyễn Bảo D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vật chứng đã thu giữ cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện H Thuận N.
[4] Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 01/5/2021, tại khu phố Lập H, thị trấn Thuận N, huyện Hàm Thuận N Phan Ng Bảo D – sinh năm: 1993 (thôn Phú M, xã Hàm M, huyện Hàm Th Nam) cùng với đối tượng tên H (không rõ nhân thân lai lịch) đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc 01 chiếc điện thoại Iphone XSMAX; 01 chiếc điện thoại Iphone và 01 chiếc ba lô toàn bộ tài sản trên là của Ph Văn T – sinh năm: 1992 (Số 3 Nguyễn Trãi, phường 4, thành phố Tây N, tỉnh T Ninh).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 25/2021-HĐĐG ngày 29/7/2021 của hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- 01 điện thoại Iphone XSMAX (64GB) có giá trị: 9.600.000 đồng
- 01 điện thoại Iphone 11 (64GB) có giá trị: 13.800.000 đồng
- Đối với một ba lô mà bị cáo Duy đã trộm cắp của ông Ph Xuân Tr: cơ quan điều tra tổ chức truy tìm tang vật, tuy nhiên kết quả không tìm được. Ngoài ra, bị hại không cung cấp được các hóa đơn, chứng từ khi mua chiếc ba lô trên, do đó không có căn cứ xác định giá trị chiếc ba lô trên. Tuy nhiên, căn cứ vào lời khai của bị hại xác định được: chiếc ba lô trên được bị hại mua vào tháng 2/2019 với giá 150.000 đồng, bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi trộm cắp chiếc ba lô trên và đã bồi thường cho bị hại số tiền 150.000 đồng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với chiếc ba lô trên với giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 150.000 đồng.
Như vậy tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là: 23.550.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
[5] Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo là hành vi cố ý, hành vi đó không chỉ đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hành vi của bị cáo Ph Nguyễn Bảo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng đã truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam là có căn cứ, hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi trộm cắp tài sản mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo Ph Nguyễn Bảo D là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hoàn toàn có đủ điều kiện để nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân mà không do sức lao động chính đáng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
[7] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo đã có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; đại diện bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ngày 15/9/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện H Thuận N, tỉnh Bình Thuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 66/2021/HSST ngày 15/9/2021, Quyết định thi hành án phạt tù số 76/2021/QĐ-CA ngày 18/10/2021 của Tòa án nhân dân huyện H Thuận N hiện bị cáo đang chấp hành án của bản án trên. Hội đồng xét xử, xét thấy cần áp dụng quy định tại Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của các bản án đối với bị cáo.
[8] Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét bị cáo đã từng bị xét xử chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội thấy cần cho bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người tốt, góp phần lập lại tình hình trị an tại địa phương.
[9] Tang vật vụ án: 01 điện thoại Iphone XSMAX màu đen loại 64GB; 01 điện thoại Iphone 11 màu xanh rêu loại 64GB. Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 ba lô mà D và H đã lấy trộm của Ph Xuân Tr. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành tổ chức truy tìm tang vật, tuy nhiên kết quả không tìm được.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và đã được bồi thường tài sản bị mất. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Đối với Ng Huy Kh: khi nhận 02 điện thoại trên từ bị cáo D, Kh không biết đây là tài sản D trộm cắp mà có được. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.
[12] Đối với đối tượng tên H: đến nay Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện H Thuận N xác minh làm rõ.
[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Ph Nguyễn B D, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Điều 55 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Ng Bảo D 18 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 18 tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án Hình sự sơ thẩm số 66 ngày 15/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện H Thuận N. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/5/2021.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Ph Nguyễn Bảo D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ng Thị Ý T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (05/4/2022). Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh B Thuận; - Sở Tư pháp tỉnh B Thuận; - VKSND huyện H Thuận Nam; - CA huyện H Thuận Nam; - THADS H Thuận Nam; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ – án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Đinh Văn Dũng |