vanban.org

Bản án 27/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu Tuyên án 10/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Trịnh Đ H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2/ Xử phạt bị cáo Trịnh Đ H 18 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03/10/2021 đến ngày 12/10/2021 còn phải chấp hành 17 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. 3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Đ H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Trịnh Đ H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HS-ST
Ngày 10 tháng 01 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh, ông Lò Văn Chiên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 31/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:

Trịnh Đ H tên gọi khác: Không, sinh năm: 19xx; Nơi sinh: Huyện B, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trịnh A, sinh năm 19xx và bà Trần B, sinh năm 19xx; Bị cáo có vợ là Lò T I sinh năm 19xx và 02 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt do phạm tội quả tang ngày 03/10/2021 và bị tạm giữ từ ngày 03/10/2021 đến ngày 12/10/2021 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 03 tháng 10 năm 2021, Trịnh Đ H một mình đứng trước cửa nhà trọ của H ở Thôn A, xã B rồi xin đi nhờ xe của một người đàn ông (không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể) lên xã Bản Lang tìm mua Heroine để sử dụng. Khi đi đến khu vực bản Hợp 1, xã Bản Lang, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, H xuống xe đi bộ một quãng, H gặp một nam thanh niên khoảng 25 tuổi (không biết rõ họ tên và địa chỉ), qua nói chuyện H có nhờ và nói với nam thanh niên mua hộ tao 300.000 đồng Heroine, nam thanh niên đồng ý mua Heroine cho H. Sau đó H lấy số tiền 300.000 đồng (gồm 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) ở túi quần bên phải đằng trước đang mặc, đưa cho người nam thanh niên, người này cầm tiền của H và đi vào hướng bản Hợp 1, xã Bản Lang. H đứng đợi ở trên đường, khoảng 20 phút sau thì người nam thanh niên quay lại và đưa cho H 01 (một) gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh buộc thắt lại, nhìn qua lớp nilon thấy bên trong là Heroine nên H không mở ra kiểm tra mà cất giấu gói Heroine này ở túi quần bên phải đang mặc, còn người nam thanh niên đi đâu H không biết. Sau khi mua được Heroine, H đứng trên đường khoảng 15 phút, H thấy người đàn ông cho mình đi nhờ trước đó quay lại, H tiếp tục đi nhờ xe máy của người này về thôn A, xã B sau đó H xuống xe đi vào nhà lấy áo mưa còn người đàn ông vừa cho H đi nhờ xe, đi đâu H không biết. Lấy áo mưa xong H ra đứng ở ngoài đường thì gặp một người đàn ông lạ mặt, không quen biết, đi xe máy theo hướng xã Khổng Lào, H có xin đi nhờ xe với mục đích lên xã Khổng Lào tìm nơi sử dụng Heroine. Khi đi đến khu vực bản Huổi Nả, xã Khổng Lào, H xuống xe đi bộ được khoảng 100 mét thì bị tổ Công tác công an xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ bắt quả tang. Thu giữ 01 (một) gói Heroine được gói bằng nilon màu xanh buộc thắt lại cất giấu ở túi quần bên phải đang mặc trên người.

Kết luận giám định về khối lượng và chất ma túy khẳng định: 01 gói chất bột màu trắng thu giữ của Trịnh Đ H gửi đến giám định là ma tuý, loại Heroine. Có khối lượng là 0,4 gam

Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSPT ngày 23 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Trịnh Đ H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Đ H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trịnh Đ H từ 17 tháng đến 20 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì niêm phong bên trong là 0,3 gam Heroine còn lại sau giám định, vỏ niêm phong cũ và mảnh nilon màu xanh cũ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, ở vùng khó khăn về kinh tế nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật

Bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 03/10/2021 tại khu vực bản Huổi Nả, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu bị cáo Trịnh Đ H có hành vi cất giấu ở túi quần bên phải đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,4 gam. Mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do vậy phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống. Quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, ở vùng khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì niêm phong bên trong là 0,3 gam Heroine còn lại sau giám định, vỏ niêm phong cũ và mảnh nilon màu xanh cũ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14

1/ Tuyên bố bị cáo Trịnh Đ H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2/ Xử phạt bị cáo Trịnh Đ H 18 tháng tù. Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ từ ngày 03/10/2021 đến ngày 12/10/2021 còn phải chấp hành 17 tháng 21 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ phong bì niêm phong bên trong là 0,3 gam Heroine còn lại sau giám định, vỏ niêm phong cũ và mảnh nilon màu xanh cũ.

4/ Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ