- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lưu Văn D - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn D; sửa một phần Bản
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HS-PT Ngày 25-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Đức Chiến.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy;
Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Cao Cường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà:
Bà Lương Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2022/TLPT-HS
ngày 18 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo Lưu Văn D, do có kháng cáo của bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2022/HS-ST ngày 11 tháng 3 năm
2022 của Toà án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Lưu Văn D, sinh ngày 15-01-1999 tại huyện H,
tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Nùng;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn K và
bà Hoàng Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị
truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21-9-2021 đến nay, có
mặt.
Bị hại:
1. Anh Lê Tuấn A, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh
Lạng Sơn, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Tuấn A: Bà Nguyễn Thị H; địa
chỉ: Thôn V, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
2. Anh Nông Quốc S, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn S, xã H, huyện H,
tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 28/7/2021, Lưu Văn D cùng Lưu Văn T, Hà Văn K,
Hà Văn Q, Nông Văn T, Vương Văn L và Hoàng Văn Q đến quán Coffee ở thôn S, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn uống bia; tại bàn bên cạnh, Hoàng Văn Đ ngồi uống bia cùng 01 nhóm người khác. Trong quá trình uống bia Lưu Văn T và Hoàng Văn Đ xảy ra xích mích với nhau.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Lưu Văn T đi ra ngoài cửa quán, Hoàng
Văn Đ định đi theo để nói chuyện thì được Hà Văn P và Nông Văn T can ngăn nên Hoàng Văn Đ ngồi xuống. Một lúc sau, Hoàng Văn Đ đi ra cửa quán thấy Lưu Văn T đang đứng dưới đường cạnh cửa quán, Hoàng Văn Đ đi đến chỗ Lưu Văn T nói “T, mày chửi ai đấy” rồi lao vào dùng chân đạp vào người làm Lưu Văn T ngã xuống đường, Hoàng Văn Đ tiếp tục xông vào ôm lấy cổ Lưu Văn T. Lưu Văn D thấy bên ngoài có đánh nhau, trên tay đang cầm chiếc cốc thủy tinh loại có quai cầm dùng uống bia đi ra, thấy Hoàng Văn Đ đang ôm cổ Lưu Văn T, Lưu Văn D liền xông vào đập phần đáy cốc xuống đầu Hoàng Văn Đ. Cùng lúc này, Nông Quốc S chạy vào can thì bị Lưu Văn D cầm cốc đập nhiều phát vào vùng đầu, vùng mặt của Nông Quốc S làm cốc bị vỡ thành nhiều mảnh văng vào ngực, tai và tay của Nông Quốc S. Sau đó, Lê Tuấn A và nhiều người khác vào can ngăn thì Lưu Văn D dừng lại. Lưu Văn D đi về còn Hoàng Văn Đ và Nông Quốc S được đưa đi băng bó vết thương, ngày 29/7/2021 Nông Quốc S đến Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Lạng Sơn điều trị thương tích, đến ngày 30/7/2021 ra viện.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 28/7/2021, Lê Tuấn A cùng với
Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thanh H, Hoàng Văn K, Dương Trường G đi xe ô tô của Nguyễn Văn Đ đến nhà Lưu Văn D để nói chuyện. Đến đường rẽ vào nhà Lưu Văn D, Nguyễn Văn Đ đỗ xe ở ngoài rồi cả nhóm đi bộ vào sân nhà Lưu Văn D; Hoàng Văn K gọi Lưu Văn D ra nói chuyện rồi cùng nhau quay lại chỗ đỗ xe. Lưu Văn D đi qua sân vào chỗ thường thịt vịt, lấy con dao nhọn để ở đó cho vào túi quần bên phải rồi ra gặp nhóm của Lê Tuấn A. Khi Lưu Văn D đến đang đứng nói chuyện với Hoàng Văn K cách chỗ xe ô tô khoảng 2m thì Lê Tuấn A đi đến nói “Anh còn đánh vào người em nữa đấy”, thấy Lưu Văn D không nói gì, Lê Tuấn A dùng tay trái đẩy vào người còn tay phải đấm vào người Lưu Văn D. Bị đấm đau, Lưu Văn D rút tay phải đang cầm dao từ trong túi quần ra đâm một phát vào bụng Lê Tuấn A, Lê Tuấn A đẩy Lưu Văn D ra thì Lưu Văn D chạy về nhà vào nhà tắm vứt dao vào chậu quần áo, rửa tay rồi đi vào nhà. Lê Tuấn A được đưa đến Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Lạng Sơn điều trị thương tích đến ngày 04/8/2021 thì ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 239/2021/PYTT
ngày 23/8/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Thương tích của Lê Tuấn A gồm; sẹo vết thương và vết mổ 02%; sẹo vết dẫn lưu mạn sườn phải 02%; phẫu thuật ổ bụng xử lý mạc nối lớn 11%; sẹo vết xây sước mặt sau cẳng
tay trái 02 %. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể cộng lùi là 16%. Cơ chế hình thành
thương tích: Do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên, vật gửi giám định hoàn
toàn có thể gây được thương tích ở vết thương vùng bụng.
Kết quả điều tra không xác định được người gây thương tích cho Lê Tuấn
A tại sẹo vết xây xước mặt sau cẳng tay phải: 02%, đồng thời người bị hại cũng
không yêu cầu đề nghị gì về vết thương trên; do vậy tại văn bản số: 03/GĐTH-
TTPY ngày 21/02/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lạng Sơn phúc đáp văn bản
số 86/CV-CQĐT ngày 16/02/2022 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện
Hữu Lũng về việc tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của
Lê Tuấn A đối với 03 vết thương tại Bản kết luận giám định pháp y về thương
tích số 239/2021/PYTT ngày 23/8/2021, đó là “Tổng tỷ lệ (theo phương pháp
cộng tại Thông tư): 15%(mười năm phần trăm)”.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 240/2021/PYTT
ngày 23/8/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lạng Sơn kết luận: Tỷ lệ tổn thương
cơ thể của Nông Quốc S là 07%. Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày tác
động trực tiếp gây nên, vật gửi giám định hoàn toàn có thể gây được thương tích
đối với các vết thương trên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 07/2022/HS-ST ngày 11-3-2022 của Tòa án
nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã quyết định:
Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các
Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 5 Điều 275, Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 584, 585,
586, 590 của Bộ luật Dân sự;
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích. Xử phạt bị
cáo Lưu Văn D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại
phiên tòa, bị cáo Lưu Văn D có trách nhiệm, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do
sức khỏe bị xâm hại cho bị hại anh Lê Tuấn A số tiền 25.000.000đ (hai mươi
lăm triệu đồng) và bị hại anh Nông Quốc S số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu
đồng).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Lưu Văn D có đơn
kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lưu Văn D thay đổi yêu cầu kháng cáo xin được
giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Đơn kháng cáo
của bị cáo kháng cáo trong hạn luật định là hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh
giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đã xem xét
đầy đủ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có xuất trình thêm đơn trình bày là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố bị bệnh tật ốm yếu không có khả năng lao động có xác nhận của chính quyền địa phương; 01 đơn xin xác nhận nhân thân có xác nhận của Trưởng Công an xã và 02 Biên lai nộp tiền khắc phục hậu quả, tổng số tiển 30.000.000 đồng, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm mức hình phạt cho bị cáo từ 03 đến 06 tháng tù, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lưu Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của bản thân, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lưu Văn D về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo Lưu Văn D đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ
hình phạt và cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy rằng, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như đã xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là có cơ sở. Bởi, lần 1 bị cáo đã dùng cốc uống bia đập vào vùng đầu của bị hại Nông Quốc S gây thương tích 07% và đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày 28/7/2021, Lê Tuấn A cùng với Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thanh H, Hoàng Văn K, Dương Trường G đi xe ô tô của Nguyễn Văn Đ đến nhà Lưu Văn D để nói chuyện, nhưng người bị hại đã dùng vũ lực đánh, đấm bị cáo dẫn đến hậu quả xảy ra lần 2, đối với anh Lê Tuấn A là 15% thương tích. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và cho rằng người bị cũng có lỗi là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại không có mặt và không có kháng cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm vẫn xem xét các tình tiết mới có tại phiên tòa.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ
mới là 01 đơn trình bày là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có bố bị bệnh tật ốm yếu không có khả năng lao động, mẹ bị cáo đi làm ăn xa có xác nhận của chính quyền địa phương; 01 đơn xin xác nhận nhân thân có xác nhận của Trưởng Công an xã và 02 Biên lai nộp tiền khắc phục hậu quả, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn tổng số tiển 30.000.000 đồng, để bồi thường cho các bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới bị cáo được hưởng quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 của Bộ luật Hình sự năm 2015; trong quá trình sinh sống tại địa phương bị
cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
của công dân ở nơi cư trú; trong thời gian tại ngoại không có hành vi bỏ trốn hay
vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, bị khởi tố;
truy tố và xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015,
mức cao nhất của khung hình phạt là 06 năm tù giam, bị cáo có 02 tình tiết tăng
nặng định khung theo điểm c, đ quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự
năm 2015, nên không đủ điều kiện được hưởng án treo theo Nghị quyết
02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết 01/2022/NQ-
HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử nhận
thấy, bị cáo đã cung cấp các tài liệu chứng cứ mới nêu tại mục [3]. Do vậy, cần
xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của
pháp luật mà yên tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập cộng đồng.
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật hình sự, giảm 06
(sáu) tháng tù cho bị cáo. Buộc bị cáo còn phải chấp hành 02 (hai) năm tù giam về
tội Cố ý gây thương tích, theo khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền
30.000.000 (ba mươi triệu) đồng tại các biên lai thu tiền ngày 18 tháng 3 năm
2022 và ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H,
tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 10.000.000 đồng (mười
triệu đồng chẵn) và phải chịu lãi xuất chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phù hợp
với nhận định nêu trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình
sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn D; sửa một phần Bản
án hình sự sơ thẩm số: 07/2022/HS-ST ngày 11/3/2022 của Tòa án nhân dân
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt, cụ thể như sau:
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c, đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1,
khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Lưu Văn D 02 (hai) năm tù giam về tội: Cố ý gây thương
tích, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 357, khoản 2 Điều
468, Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự;
Xác nhận bị cáo đã nộp số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tại biên
lai thu tiền số: AA/2021/0004677 ngày 18 tháng 3 năm 2022 và nộp số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng tại biên lai thu tiền số: AA/2021/0004699 ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng chẵn) cho anh Lê Tuấn A và anh Nông Quốc S và phải chịu lãi xuất chậm trả theo quy định của Bộ luật dân sự, khi người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án.
3. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị cáo Lưu Văn D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/5/2022)./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 CA tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Công an h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - UBND xã H, h. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo. Lưu: HS, Tòa HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Đức Chiến |