- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Đặng Văn H - Chị Thinh Thi H (Hà Thị T),"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST Ngày 28-6-2022 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hồng Ánh
Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Xanh và ông Trần Văn Sinh.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: bà Bùi Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 tháng 3 và ngày 28 tháng 6 năm 2022 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 19/2021/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022, và thông báo về việc mở lại phiên tòa số: 19/TB-TA ngày 06 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Đặng Văn H, sinh năm 1973; quốc tịch: Việt Nam; địa chỉ: tổ 6, khu 1, phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam, vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Thinh Thi H (Hà Thị T), sinh năm 1957; Quốc tịch: Australia; địa chỉ: 6/108 Northsteyre Manly Sydney N.S.W 2095 Australia, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 20/5/2021, bản tự khai ngày 01 tháng 7 năm 2021, nguyên đơn anh Đặng Văn H trình bày: anh Đặng Văn H và chị H Thị T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam ngày 28/10/2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, nhưng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau. Đến khoảng đầu năm 2006 chị Thịnh trở về Asutralia và không quay trở lại Việt Nam nữa. Vợ chồng sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ đó đến nay không ai quam tâm đến ai. Đến nay tình cảm của anh H với chị Thịnh không còn, anh H đề nghị Tòa án giải quyết cho anh H được ly hôn chị Thịnh.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh Đặng Văn H và chị H Thị T không có con chung. Nếu ly hôn anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: anh Đặng Văn H và chị H Thị T không có tài sản chung, cũng không vay nợ gì của ai, nếu ly hôn anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: anh Đặng Văn H có quan điểm xin chịu toàn bộ án phí ly hôn.
Bị đơn chị H Thị T đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, bảng câu hỏi hướng dẫn viết bản tự khai (gọi chung là hồ sơ ủy thác tư pháp). Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự của Tòa án đã được Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi Tòa án tối cao của bang New South Wales, Asutralia để tống đạt cho chị H Thị T. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất ngày 18/3/2022, chị H Thị T vắng mặt không có lý do. Tòa án cũng chưa nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt, cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của chị H Thị T ở nước ngoài. Căn cứ khoản 4 điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày 21/3/2022 Tòa án đã ra văn bản số 53/CV-TA đề nghị Bộ tư pháp thông báo về kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H Thị T để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án. Đến nay đã hết thời hạn 03 tháng theo quy định tại khoản 4 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn không nhận được văn bản trả lời của Bộ tư pháp về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa sơ thẩm có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự anh Đặng Văn H đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Quảng Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn H, đề nghị xử cho anh H được ly hôn chị H Thị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
Chị H Thị T đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam gửi thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày mở phiên họp, phiên tòa sơ thẩm, bảng câu hỏi hướng dẫn viết bản tự khai (gọi chung là hồ sơ ủy thác tư pháp). Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự của Tòa án đã được Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gửi Tòa án tối cao của bang New South Wales, Asutralia để tống đạt cho chị H Thị T. Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất ngày 18/3/2022, chị H Thị T vắng mặt không có lý do. Tòa án cũng chưa nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt, cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của chị H Thị T ở nước ngoài. Căn cứ khoản 4 điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, ngày 21/3/2022 Tòa án đã ra văn bản số 53/CV-TA đề nghị Bộ tư pháp thông báo về kết quả tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H Thị T để Tòa án có căn cứ giải quyết vụ án. Đến nay đã hết thời hạn 03 tháng theo quy định tại khoản 4 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn không nhận được văn bản trả lời của Bộ tư pháp về kết quả thực hiện việc tống đạt cho đương sự ở nước ngoài.
Anh Đặng Văn H đã nhận được thông báo mở lại phiên tòa xét xử vụ án, ngày 24/6/2022 anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt anh H vào ngày 28/6/2022.
Căn cứ điểm c khoản 5 Điều 477, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đặng Văn H và chị H Thị T.
. Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Văn H và chị H Thị T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam ngày 28/10/2005. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng nhau tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, nhưng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau. Đến khoảng đầu năm 2006 chị Thịnh trở về Asutralia và không quay trở lại Việt Nam nữa. Vợ chồng sống ly thân nhau mỗi người một nơi từ đó đến nay không ai quam tâm đến ai. Như vậy, có cơ sở kết luận mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Đặng Văn H và chị H Thị T xảy ra đã thật sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn với chị H Thị T của anh Đặng Văn H.
. Về con chung: Anh Đặng Văn H khai nhận không có con chung với chị H Thị T, nếu ly hôn anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về tài sản chung: anh Đặng Văn H khai nhận không có tài sản chung với chị H Thị T, nếu ly hôn không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: anh Đặng Văn H phải chịu án phí ly hôn, lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm c khoản 5 Điều 477, khoản 1 Điều 273, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đặng Văn H.
Về quan hệ hôn nhân: anh Đặng Văn H được ly hôn chị H Thị T (Thinh Thi H).
Về con chung: anh Đặng Văn H và chị H Thị T (Thinh Thi H) không có con chung, vì vậy không đề cập.
Về tài sản: anh Đặng Văn H và chị H Thị T (Thinh Thi H) không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy không đề cập.
Về án phí: anh Đặng Văn H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp về dân sự, được trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí và 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí anh H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002418 ngày 09 tháng 6 năm 2021 và biên lai thu tiền phí, lệ phí số 0009835 ngày 16 tháng 7 năm 2021 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Anh Đặng Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, chị H Thị T (Thinh Thi H) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 12 tháng; thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự. - VKSND tỉnh Quảng Ninh. - Thi hành án. - Sở tư pháp Quảng Ninh. - Lưu HS, VP. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Ánh |