- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Lương Văn B.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2022/HNGĐ-ST Ngày: 06/9/2022 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Tuấn.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Huyền.
2. Ông Lý Ba Duy.
Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2022/TLST - HNGĐ ngày 10/6/2022 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Lâm Thị A – Sinh năm 1979.
Địa chỉ: Thôn BT, xã I, huyện CP, tỉnh Gia Lai.
Dân tộc: Nùng; Văn hóa: 03/12; Nghề nghiệp: Tự do.
(Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt)
* Bị đơn: Anh Lương Văn B – Sinh năm 1983.
Địa chỉ: Xóm LT, xã TN, huyện V, tỉnh Thái Nguyên
Dân tộc: Tày;
(Vắng mặt lần 2 không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và B bản lấy lời khai nguyên đơn chị Lâm Thị A trình bày:
Chị khởi kiện anh Lương Văn B – Địa chỉ: Xóm LT, xã TN, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, lý do xin ly hôn.
Chị và anh B kết hôn với nhau năm 2007, có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện CP, tỉnh Gia Lai.
Quá trình chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Lương Thị Hồng F1 – Sinh ngày 28/01/2008. Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh B không có tài sản chung, không vay ai và cho ai vay.
Về nguyên nhân xin ly hôn: Trong quá trình chung sống, vợ chồng nhận thấy những mâu thuẫn, bất đồng, tình cảm vợ chồng không hòa hợp đã sống ly thân từ tháng 04/2008 đến nay. Do hai vợ chồng không còn ràng buộc và mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn anh B.
Nay chị yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh B.
Về con chung: Chị có nguyện vọng được nuôi con chung sau khi ly hôn, nếu được nuôi con chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết vì không có tài sản chung, không vay ai và cho ai vay.
* Bị đơn anh Lƣơng Văn B. Sau khi Toà án thụ lý, Toà án đã tiến hành triệu tập, thông báo hợp lệ nhiều lần để anh B đến Toà án làm các thủ tục tố tụng theo quy định nhưng anh B trốn tránh không đến.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ mà vẫn vắng mặt. Nên căn cứ vào các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án dân sự và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, cụ thể:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị A, yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Lương Văn B.
- Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Lương Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Lương Thị Hồng F1 – Sinh ngày 28/01/2008 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B vì chị A không yêu cầu. Chị A và anh B có các quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị A phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình, về việc ly hôn giữa chị Lâm Thị A và anh Lương Văn B.
Về tư cách chủ thể: Chị Lâm Thị A khởi kiện anh Lương Văn B nên chị Lâm Thị A là nguyên đơn, anh Lương Văn B là bị đơn trong vụ án.
Về yêu cầu xin ly hôn của chị A: Chị A và anh B kết hôn năm 2007, có tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện CP, tỉnh Gia Lai nên hôn nhân là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là cháu Lương Thị Hồng F1 – Sinh ngày 28/01/2008.
Về nguyên nhân ly hôn: Theo chị A quá trình chung sống, vợ chồng nhận thấy những mâu thuẫn, bất đồng, tình cảm vợ chồng không hòa hợp đã sống ly thân từ tháng 04/2008 đến nay.
Theo B bản xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp ly hôn của Tòa án tại địa phương xác định sau khi UBND xã TN giới thiệu, anh B và chị A đã đăng ký kết hôn tại UBND xã I, huyện CP, tỉnh Gia Lai từ năm 2007. Đến tháng 04/2008 anh B có về xã TN sinh sống và địa phương xác định không thấy chị A về sinh sống cùng anh B từ đó đến nay.
Xét anh B chị A đã không còn sinh sống với nhau một thời gian dài, anh chị sống ở hai địa phương cách rất xa nhau nên xác định cuộc hôn nhân giữa chị A và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A với anh B.
Về con chung:
Anh B và chị A có 01 con chung là cháu Lương Thị Hồng F1 – Sinh ngày 28/01/2008. Chị A có nguyện vọng trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, còn anh B không hợp tác để Tòa án làm các thủ tục tố tụng nên không xác định được nguyện vọng của anh B.
Ý kiến nguyện vọng của cháu Lương Thị Hồng F1 mong muốn ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Hiện tại cháu F1 cũng đang sinh sống cùng chị A tại Gia Lai, đồng thời cháu F1 là nữ. Do vậy cần giao cháu F1 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp và đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý của cháu.
Về vấn đề cấp dưỡng vì chị A không yêu cầu, nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B. Anh B và chị A có quyền và nghĩa vụ đối với con chung sau khi ly hôn theo quy định.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Chị Lâm Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Xét ý kiến về việc giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238 và 235 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Cho chị Lâm Thị A được ly hôn anh Lương Văn B.
2. Về con chung: Giao cháu Lương Thị Hồng F1 – Sinh ngày 28/01/2008 cho chị Lâm Thị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh B vì chị A không yêu cầu.
Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị A cũng như các thành viên trong gia đình không được cản trở anh B thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lương Thị Hồng F1.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Lâm Thị A phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Lâm Thị A đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V theo biên lai số 0004944 ngày 10 tháng 6 năm 2022.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)
Án xử công khai vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện V; - UBND xã I; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Kim Tuấn |