vanban.org

Bản án 27/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử vắng mặt chị Hồ Thị H và anh Đinh Thái H.

Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Hồ Thị H ly hôn anh Đinh Thái H. Về nuôi con chung của vợ chồng: giao con chung Đinh Quỳnh T, sinh ngày 20/3/2020 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đinh Thái H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về con chung"
  • Tòa quyết gì? Xử vắng mặt chị Hồ Thị H và anh Đinh Thái H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUYÊN HOÁ
TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2022/HNGĐ - ST
Ngày: 29-8-2022
“V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Hữu Tình

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Lợi và ông Trần Minh Khai

- Thư ký phiên tòa: ông Đinh Quang Vịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Huệ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2022/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 01/6/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Hồ Thị H, sinh năm 1999

Địa chỉ: thôn Y, xã P, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: anh Đinh Thái H, sinh năm 1998

Địa chỉ: thôn 4 T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 24/12/2021 và bản tự khai ngày 17/02/2022 chị Hồ Thị H trình bày: chị và anh Đinh Thái H có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vào ngày 12/11/2019. Trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân vì bất đồng quan điểm trong việc làm ăn và kinh tế của gia đình, anh H bỏ bê không quan tâm đến vợ con. Mâu thuẫn giữa hai người kéo dài mà không khắc phục được nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2020 cho đến nay. Mặc dù đã được gia đình hai bên hòa giải, khuyên nhủ, tuy nhiên tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị xin được ly hôn với anh Đinh Thái H.

Về con chung: quá trình chung sống chị và anh Đinh Thái H có một con chung là Đinh Quỳnh T, sinh ngày 20/3/2020, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con và không yêu cầu anh H đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

Về tài sản và nợ chung: chị và anh Đinh Thái H không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, thông qua Ủy ban nhân dân xã T, Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như giấy triệu tập anh H đến Tòa án để ghi nhận ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị H, nhưng anh H không đến Tòa án và cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình. Theo kết quả xác minh tại gia đình, bà Ngô Thị C (mẹ anh H) cho biết, anh Đinh Thái H là con trai của bà và có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Tuyên Hóa. Bà là người trực tiếp nhận các văn bản tố tụng do Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa gửi cho con trai bà là Đinh Thái H. Tuy nhiên, do anh H thời điểm đó đang đi học tại thành phố Đồng Hới, vì vậy bà đã điện thoại báo cho anh H biết, nhưng anh H không sắp xếp thời gian để đến Tòa án làm việc được. Sau đó mặc dù biết Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa đang thụ lý và triệu tập để giải quyết việc ly hôn giữa anh H và chị H nhưng vào ngày 12/3/2022 anh H đã đi xuất khẩu lao động tại Singapore. Ý kiến của anh H là để chị H tự làm các thủ tục ly hôn.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa phát biểu về việc tuân theo pháp luật đối với Thẩm phán và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo các quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã đảm bảo thực hiện đúng và đủ thành phần theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập đầy đủ chứng cứ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Hồ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ, đối với anh Đinh Thái H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt chị Hồ Thị H và anh Đinh Thái H. Về quan hệ hôn nhân đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình để xử cho chị Hồ Thị H ly hôn anh Đinh Thái H. Về con chung đề nghị áp dụng các Điều 58, 81, 82, 83, 84, Luật hôn nhân và gia đình giao con Đinh Quỳnh T, sinh ngày 20/3/2020 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Về tài sản chung và công nợ không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Án phí dân sự sơ thẩm chị H phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: chị Hồ Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn đối với anh Đinh Thái H, đây là tranh chấp về ly hôn. Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án (ngày 19/01/20222), anh H có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, đến ngày 12/3/2022 anh H mới xuất cảnh ra nước ngoài, nên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa thụ lý, giải quyết vụ án là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Hồ Thị H vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt hợp lệ, anh Đinh Thái H vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 207; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung, Hội đồng xét xử thấy:

Quan hệ hôn nhân: hôn nhân giữa chị H và anh H là tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên được công nhận hôn nhân hợp pháp. Chị H xin ly hôn với anh H vì nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn, thời gian sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy từ sau khi vụ án được thụ lý và trong suốt quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đối với anh H đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng anh H vẫn không có mặt và cũng không có văn bản ghi nhận ý kiến của mình gửi cho Tòa án. Sau khi xuất cảnh ra nước ngoài, anh H cũng không cho gia đình, người thân của mình biết địa chỉ cụ thể, điều đó chứng tỏ anh H không có trách nhiệm với cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, cố tình dấu địa chỉ. Vì vậy việc chị H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn với anh H là có cơ sở nên cần căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Hồ Thị H ly hôn anh Đinh Thái H.

Về nuôi con chung của vợ chồng: hiện tại con chung của vợ chồng đang còn nhỏ và ở cùng với chị H kể từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng là tự nguyện, mặt khác anh H hiện tại đã đi làm ăn xa, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Vì vậy, cần căn cứ các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình để giao con chung Đinh Quỳnh T, sinh ngày 20/3/2020 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đinh Thái H không phải đóng góp tiền nuôi con hàng tháng.

Về tài sản và nợ chung của vợ chồng: chị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147; khoản 1, khoản 4 Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

1. Xử vắng mặt chị Hồ Thị H và anh Đinh Thái H.

2. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Hồ Thị H ly hôn anh Đinh Thái H.

3. Về nuôi con chung của vợ chồng: giao con chung Đinh Quỳnh T, sinh ngày 20/3/2020 cho chị Hồ Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Đinh Thái H không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con hàng tháng.

Không ai được ngăn cản việc đi lại, chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con thì một trong hai bên có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

4. Về quan hệ tài sản và công nợ chung: Không xem xét.

5. Về án phí dân sự: buộc chị Hồ Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000042 ngày 19/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, chị H đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, các bên đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ