vanban.org

Bản án 27/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách Xã Hội Buộc bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải liên đới trả cho Ngân hàng Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 27/2022/DS-ST

HUYỆN CƯ M’GAR Độc lập- Tự do- Hạnh phúc Ngày: 31 – 5 – 2022 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Duy Thanh, ông Trương Minh Mẫn - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long – Kiểm sát viên. Ngày 31 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 400/2020/TLST-DS ngày 11 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2022/QĐST-DS ngày 09 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Ngân hàng C Địa chỉ: Số 169 phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Y S Niê - Phó Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng C huyện C, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt) Địa chỉ: Số 01 đường Đ, thị trấn Q, huyện C”gar, tỉnh Đắk Lắk * Bị đơn: Ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T (Đều vắng mặt) Địa chỉ: Buôn D, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Y S Niê trình bày: Ngày 10/5/2020, ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T vay vốn từ chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo của Ngân hàng C để cải tạo cà phê, số tiền vay là 50.000.000đồng, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất cho vay là 8,25%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn. Ông H, bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 10/5/2021. Ngân hàng phối hợp với chính quyền địa phương nhiều lần đôn đốc để ông H, bà T trả nợ nhưng ông

H, bà T không trả nợ. Hiện nay, ông H, bà T đã đi làm ăn ở tỉnh khác và không thực hiện phương án sản xuất tại địa phương. Nay, Ngân hàng C yêu cầu ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền nợ gốc 50.000.000đồng và tiền lãi 990.000đồng (tạm tính đến ngày 05/11/2021) tiếp tục tính lãi phát sinh cho đến khi trả xong nợ. Đối với bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T: Quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đều không đến Tòa án làm việc nên không lấy lời khai được. Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng, đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, thu thập chứng cứ, xác minh, xác định tư cách của những người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định pháp luật. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Y S Niê đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T không chấp hành nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72, Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng C số tiền nợ gốc 50.000.000đồng và tiền lãi theo phát sinh theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng C và bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T có địa chỉ tại Buôn D, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk [2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến phiên tòa nhưng họ đều vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về nội dung vụ án: Căn cứ theo Sổ vay vốn; Giấy ủy quyền ngày 20/3/2020, Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 20/3/2020 có chữ ký của ông Lê Viết H, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk đã thể hiện ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T có vay của Ngân hàng C số tiền 50.000.000đồng, lãi suất vay là 8,25%/năm, lãi suất quá hạn bằng 130% lãi suất trong

hạn, thời hạn vay là 60 tháng, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ là 10.000.000đồng/lần. Từ ngày 10/5/2021 thì ông H, bà T không thực hiện việc trả nợ theo hợp đồng đã ký kết là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền 50.237.956đồng, trong đó nợ gốc 50.000.000đồng và nợ lãi 237.956đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử ngày 31/5/2022, tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 01/6/2022 cho đến khi trả xong nợ, Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ, cần chấp nhận. [4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 33; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. - Khoản 1 Điều 275, Điều 463; Điều 466 của Bộ luật Dân sự; Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; - Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Chính sách Xã Hội - Buộc bị đơn ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải liên đới trả cho Ngân hàng C số tiền 50.237.956đồng, trong đó nợ gốc 50.000.000đồng và nợ lãi 237.956đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử ngày 31/5/2022. Kể từ ngày 01/6/2022, ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T còn phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh cho đến khi trả xong nợ gốc với mức lãi suất các bên thỏa thuận được tính theo quy định tại Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay của ông Lê Viết H đề ngày 20/3/2020 được Phòng Giao dịch Ngân hàng C huyện C, tỉnh Đắk Lắk phê duyệt ngày 16/4/2020. 2. Về án phí: Ông Lê Viết H, bà Nguyễn Thị T phải liên đới chịu 2.511.500đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ