- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27 /2021/HSST Ngày: 29/4/2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Mai Thùy
Các Hội thẩm nhân dân
1/ Ông Trần Trọng Thái;
2/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Mỹ.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Liễu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 15/2021/TLST – HS ngày 01/3/2021 đối với bị cáo:
NGUYỄN NHƢ T; giới tính: nam; sinh năm 1987 tại Tp. Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký HKTT: 34/28/13 Đường H, Phường M, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Nguyễn Như N; Con bà: Trần Thị Ngọc G; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 27/9/2018 bị Công an Phường M, Quận V ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 0006873/QĐ – XPVPHC về hành vi trộm cắp lồng chim, chưa được xóa.
Nhân thân: Ngày 06/01/2012 bị Ủy ban nhân dân Tp. Hồ Chí Minh ra Quyết định số 06/QĐ đưa vào Trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục thời hạn 18 tháng về hành vi trộm cắp tài sản.
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
* Người bào chữa: Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Như T có luật sư Phạm Ngọc L – Công ty Luật TNHH MTV A (có mặt).
* Ngƣời bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970.
Địa chỉ: 1168/49/24 Đường S, Phường B, quận P, Tp. Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 15 phút ngày 20/7/2019, Nguyễn Như T sử dụng xe mô tô biển số 53V5 – 5459 chạy xe ôm chở khách đến hẻm 1168/49 Đường S, Phường B, quận P, Tp. Hồ Chí Minh. Sau khi trả khách, T quay đầu xe thì thấy trước nhà số 1168/49/24 Đường S, Phường B, quận P có treo một lồng chim, bên trong có một con chim Khướu bạc má. Bản thân thích chim nên T nảy sinh ý định trộm cắp con chim về nuôi. Thực hiện ý định này, T dùng tay phải lén lút lấy lồng chim xuống đặt lên yên xe Yamaha Sirius màu trắng đang dựng sẵn trước hiên nhà. Sau đó, T tiếp tục dùng tay phải mở cửa lồng bắt con chim khướu bỏ vào trong áo thun đang mặc. Lúc này, nghe tiếng chim kêu, ông Nguyễn Văn M chủ nhà chạy ra phát hiện, T liền thả con chim ra. Ông M bắt giữ T giao cho Công an Phường B, quận P xử lý. Tại Công an Phường B, quận P, kiểm tra người của T phát hiện 03 cọng lông chim khướu màu đen còn dính lại trong áo của T đang mặc.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, Nguyễn Như T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận P ngày 19/8/2019 kết luận: 01 con chim khướu bạc má có trị giá 800.000 đồng.
Vật chứng: 01 con chim khướu (đã trả lại cho ông Nguyễn Văn M); 03 cọng lông chim khướu màu đen; 01 cây chổi dài khoảng 100cm; 01 xe gắn máy hiệu Waytec biển số 53V5 – 5459 đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 17/CT – VKS.PN ngày 25 tháng 2 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Như T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s, q khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy 03 cọng lông chim khướu màu đen và 01 cây chổi dài khoảng 100cm; Cho thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tìm chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe gắn máy hiệu Waytec biển số 53V5 – 5459, nếu không có ai đến nhận thì chiếc xe trên được tịch thu sung quỹ Nhà nước.
* Luật sư Phạm Ngọc L – Công ty Luật TNHH MTV A phát biểu lời bào chữa cho bị cáo T:
- Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- Về mức hình phạt: Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận mức đề xuất mà Viện kiểm sát đã đề ra để cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên bị cáo khai nhận: Từ nhỏ đến nay bị cáo không có bạn bè, chỉ có gia đình và những con động vật (chó, chim, gà) làm bạn. Điều đặc biệt, bị cáo rất thích chim vì khi nhìn vào mỏ những con chim đang hót hoặc kêu chích chích …bị cáo khoái chí và thấy vui. Do đó, khoảng 13 giờ 15 phút ngày 20/7/2019, sau khi trả khách đi xe ôm, khi đang quay đầu xe, bị cáo phát hiện trước nhà số 1168/49/24 Đường S, Phường B, quận P có treo một lồng chim, bên trong có một con chim Khướu bạc má nên bị cáo đã dùng tay phải lấy lồng chim xuống đặt lên yên xe Yamaha Sirius màu trắng đang dựng sẵn trước hiên nhà. Sau đó, bị cáo tiếp tục dùng tay phải mở cửa lồng bắt con chim khướu bỏ vào trong áo thun đang mặc định đem về nhà nuôi thì bị ông Nguyễn Văn M chủ nhà chạy ra phát hiện. Bị cáo liền thả con chim ra.
Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân quận Phú Nhuận thì con Chim khướu có trị giá 800.000 đồng. Mặc dù, tài sản bị cáo chiếm đoạt là con chim có trị giá chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do ngày 27/9/2018 bị cáo đã bị Công an Phường M, Quận V ra Quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định số 0006873/QĐ – XPVPHC về hành vi trộm cắp lồng chim (bị cáo đóng tiền nộp phạt ngày 09/10/2018), chưa được xóa nên lần phạm tội này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương.
Xét, tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 2179/KLGĐ ngày 24/12/2020 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tp. Hồ Chí Minh kết luận : “ Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 20/7/2019 cho đến hiện tại đối tượng có bệnh: Hội chứng sau chấn động não (F07.2 – ICD10). Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 20/7/2019 cho đến hiện tại: Đối tượng hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi” nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Ngoài ra, còn xét trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có hoàn cảnh gia đình khó khăn để áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét, hiện nay bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã nêu trên. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện viện kiểm sát và Luật sư bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho bị cáo mức án cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự quy định: “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Xét, bị cáo là người không có việc làm ổn định, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, được chính quyền địa phương cấp sổ cận nghèo, có mã số hộ của Thành phố là 26944010020HCN (Theo biên bản xác minh ngày 20/5/2020 – Bút lục 125). Do đó, miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn M là 01 (một) con chim khướu bạc má có lông màu đen, hai má có lông màu trắng đã được thu hồi trả lại cho ông M. Ông M không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận và không đề cập giải quyết.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01(một) cây chổi quét nhà dài khoảng 100cm và 03 (ba) cọng lông chim khướu màu đen không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Waytec mang biển số 53V5 - 5459, số khung: LYLXCHL 14Y0237571; số máy: 1P52FMH – 3Y0237481 cũ đã qua sử dụng là phương tiện T sử dụng đi trộm cắp tài sản. Qua xác minh xác định xe này do ông Phạm Ngọc Đ tại địa chỉ số 32 Đường Y, Phường E, quận V, Tp. Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Xác minh tại Công an Phường E, Quận V xác định tại số nhà 32 Đường Y, Phường E, quận V, Tp. Hồ Chí Minh không có nhân khẩu tên Phạm Ngọc Đ thực tế cư trú. Bị cáo khai chiếc xe này bị cáo mua từ một cửa hàng trên đường L nhưng không làm giấy tờ gì và hiện cửa hàng mua bán không còn hoạt động, đã dời đi đâu bị cáo không rõ. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe này có nguồn gốc rõ ràng nhưng chưa xác định được ai là chủ sở hữu hợp pháp cuối cùng nên cho thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 03 (ba) tháng nếu không có ai là chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì chiếc xe trên được sung vào công quỹ Nhà Nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Như T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
[2]. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Như T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân Phường M, quận S, Tp. Hồ Chí Minh nhận được bản án, quyết định thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo Nguyễn Như T.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo T.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân Phường M, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo phải có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường M, quận S, Tp. Hồ Chí Minh trong việc giám sát, giáo dục. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.
[3]. Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) cây chổi dài khoảng 100cm, cán dài khoảng 87cm bằng nhựa ống nước đường kính 02cm, màu xám; đầu cây chổi màu cam bằng nhựa dài khoảng 13cm;
+ 03 (ba) cọng lông chim khướu màu đen.
- Cho thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong trong thời hạn 03 (ba) tháng nếu không có ai là chủ sở hữu hợp pháp đến nhận 01 (một) xe mô tô hiệu Waytec mang biển số 53V5 - 5459, số khung: LYLXCHL14Y0237571; số máy: 1P52FMH – 3Y0237481 cũ đã qua sử dụng thì chiếc xe trên được sung vào công quỹ Nhà Nước.
(Theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 13/8/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh).
[4]. Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Như T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Q. Phú Nhuận; - Thi hành án Q. Phú Nhuận; - Công an Q. Phú Nhuận; - P.PC27-CATP; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Mai Thùy |