vanban.org

Bản án 27/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 04/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Thị A phạm tội Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Mai Thị A 09 (chín) tháng tù; cho hư ng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 04/02/2021. Buộc bị cáo Mai Thị A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm hại sức khỏe cho Kiều Thị Lệ Ánh N1 số tiền 16.000.000 đồng (Mười sá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "27 mai thi tam - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Thị A phạm tội Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HSST
Ngày 04/02/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thanh Nữ Kiều Oanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di

2. Bà Nguyễn Thị Bích Lam

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đắc Quốc Tuân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thìn, Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 02 năm 2021 tại Tr s Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử sơ thẩm công khai v án Hình sự th lý số: 162/2020/HSST, ngày 18 tháng 12 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 01 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 05/QĐ-HPT, ngày 21/01/2021 đối với bị cáo:

Mai Thị A, sinh năm 1967

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ hiện nay: khu phố P1, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: nội trợ; Học vấn: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch; Việt Nam; Con ông Mai Văn L và bà Đoàn Thị H (đều đã chết); Chồng: Nguyễn Xuân Q; Con: có 03 người, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không; tại ngoại; có mặt.

Người bào chữa: Ông Nguyễn Thanh N, Luật sư Văn phòng luật sư số 4 thuộc đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu; có mặt.

Bị hại: Kiều Thị Lệ Ánh N1, sinh năm 1963

Trú tại: khu phố P1, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; có mặt.

Người làm chứng: Mai Văn B, Nguyễn Xuân V; có mặt. Nguyễn Thị T1, Bùi Thị Kim H, Võ Thị P2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Xuất phát từ việc Mai Thị A cho rằng con dâu của Kiều Thị Lệ Ánh N1 đăng bài xúc phạm A trên mạng xã hội facebook nên vào sáng ngày 08/7/2020 bà A gặp bà N1 trên đường thuộc khu phố E – thị trấn P thì hai bên xảy ra cự cãi xô xát lẫn nhau nhưng được người dân can ngăn rồi bà N1 đi về phòng trọ của mình (thuộc dãy nhà trọ của ông L1) thuộc khu phố E – thị trấn P. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày 08/7/2020 Mai Thị A cùng Nguyễn Xuân V (con trai của A) tìm đến phòng trọ của bà N1, lúc này có bà N1 và ông Mai Văn B (chồng bà N1), tại đây hai bên tiếp t c chửi nhau, bà A đứng khu vực cổng cầm gạch 04 lỗ có sẵn đây ném nhiều lần về phía bà N1, bà N1 cũng nhặt lên ném lại nhưng không gây ra thương tích gì. Sau đó, A tiến về phía bà N1, khi còn cách bà N1 khoảng 1,70m A ch p lấy 01 cây sào gỗ tròn (là cây dùng để đưa quần áo lên giá treo để phơi) dài 1,76m, một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm cầm bằng hai tay dơ lên cao đánh nhiều cái hướng từ trên xuống dưới hướng vào người bà N1. Bà N1 chồng bàn tay trái lên trên mu bàn tay phải dơ lên trán chống đỡ bị A đánh trúng ngón út bàn tay trái gây thương tích. Sợ ông B và bà N1 đánh Mai Thị A nên Nguyễn Xuân V đi đến cầm lấy 01 con dao phay gần đó hù dọa rồi kéo A đi về.

Tại giấy chứng nhận thương tích số 08/CN ngày 12/7/2020 của Trung tâm y tế huyện Tuy Phong xác định Kiều Thị Lệ Ánh N1 vào viện điều trị lúc 09 giờ 55 phút ngày 09/7/2020, ra viện lúc 08 giờ ngày 12/7/2020 tình trạng thương tích: Gãy kín đốt 2 ngón 5 bàn tay (T) (xương bàn ngón 5).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 329/2020/TgT ngày 26/8/2020 của Trung tâm pháp y – S y tế Bình Thuận kết luận tỷ lệ thương tích của Kiều Thị Lệ Ánh N1:

- Chấn thương bàn tay trái, gãy kín đầu xa xương bàn V bàn tay trái, đã được điều trị hiện cal xương chưa ổn định, hạn chế cử động gấp ngón, khép ngón V bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6% + 3%.

- Chấn thương do vật tày gây ra;

- Chấn thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 9%.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT/VKSTP- HS, ngày 17 tháng 12 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Mai Thị A về tội Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi dùng 01 cây sào gỗ tròn dài 1,76m, một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm của bị cáo A gây thương tích cho bà N1 là hung khí nguy hiểm.

Bị cáo cho rằng do con dâu bà N1 xúc phạm bị cáo nên bị cáo gặp bà N1 để hỏi và hai bên xảy ra xô xát, có nhiều con đường để giải quyết nhưng bị cáo lại sử d ng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn đã hiện tính chất côn đồ của bị cáo.

Tại giai đoạn xét xử vào ngày 25/01/2021 bị cáo đã nộp tại Chi c c Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong số tiền 16.000.000 đồng để khắc ph c hậu quả.

Bị cáo Mai Thị A là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi dùng cây sào gỗ gây thương tích cho bị hại N1 là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo d c bị cáo tr thành công dân tốt qua đó ngăn ngừa những hành vi tương tự.

Kiểm sát viên đề nghị: áp d ng điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, b khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mai Thị A từ 06 đến 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.

Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 590 Bộ luật dân sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây sào gỗ tròn (là cây dùng để đưa quần áo lên giá treo để phơi) dài 1,76m, một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm.

Về phần dân sự: Tại phiên tòa người bị hại Kiều Thị Lệ Ánh N1 và bị cáo Mai Thị A đã thống nhất với nhau về số tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe là 16.000.000 đồng, nên công nhận sự thỏa thuận của các bên.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét việc gây thương tích của bị cáo không phải là phạm có tính chất côn đồ theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; điểm b, e, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo Mai Thị A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố t ng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Phong, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ t c theo quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng. Vì vậy, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng là hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo Mai Thị A: Tại phiên Tòa sơ thẩm bị cáo trình bày giữa bị cáo và bà N1 có xảy ra mâu thuẫn về vấn đề nhà thờ, ngày 06/7/2020 vì việc tranh chấp nhà thờ nên bị cáo không cho vợ chồng bà N1 và ông B (anh trai của bị cáo) nhà thờ nữa. Vợ chồng ông B phải thuê nhà trọ , con dâu bà N1 đang sống tại thành phố Hồ Chí Minh biết chuyện lên mạng facebook đăng bài xúc phạm bị cáo nên vào sáng ngày 08/7/2020 bị cáo gặp bà N1 để nói cho bà N1 dạy lại con dâu thì hai bên xảy ra cự cãi xô xát lẫn nhau và đươc mọi người can ngăn.

Sau khi về nhà bị cáo lên mạng facebook biết là con dâu bà N1 vẫn đăng bài xúc phạm bị cáo nên khoảng 09 giờ cùng ngày 08/7/2020 bị cáo cùng con trai (Nguyễn Xuân V) tìm đến phòng trọ của bà N1, tại phòng trọ của bà N1 thì hai bên tiếp t c chửi nhau, bị cáo đứng khu vực cổng cầm gạch 04 lỗ có sẵn đây ném nhiều lần về phía bà N1, bà N1 cũng nhặt lên ném lại, bị cáo cầm ghế nhựa ném về phía bà N1 thì bà N1 cũng cầm ghế ném lại nhưng không có thương tích gì, sau đó bà N1 ch p 01 cây sào gỗ tròn cầm bằng hai tay dơ lên cao đánh bị cáo thì bị cáo ch p được cây sào, V thấy vậy chạy tới ôm ngăn bị cáo lại và đưa bị cáo đi về.

Theo bị cáo Mai Thị A khi bị cáo thấy bà N1 ch p cây sào gỗ đứng đối diện bị cáo đánh xuống thì bị cáo ch p được cây gỗ trên tay bà N1, ngay lập tức V ôm lấy bị cáo nên bị cáo bỏ cây xuống đất, bị cáo khẳng định bị cáo có cầm cây sào gỗ còn về thương tích của bà N1 thì bị cáo không rõ. Lúc xảy ra xô xát chỉ có bị cáo và bà N1 xô xát với nhau ngoài ra không có ai.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị hại Kiều Thị Lệ Ánh N1 cũng khẳng định giữa bà và bị cáo A có mâu thuẫn cải nhau nhiều lần về vấn đề nhà thờ, ngày 06/7/2020 vì việc tranh chấp nhà thờ nên bị cáo không cho vợ chồng bà và ông B (anh trai của bị cáo) nhà thờ nữa, vợ chồng bà phải thuê nhà trọ. Vì bà không biết sử d ng facebook nên việc con dâu bà lên mạng facebook đăng bài xúc phạm bị cáo thì bà không rõ. Vào sáng ngày 08/7/2020 bị cáo gặp bà thì đã lớn tiếng chửi mày về dạy lại con dâu của mày” bà không rõ chuyện gì nên hai bên xảy ra cự cãi xô xát lẫn nhau và đươc mọi người can ngăn.

Bà N1 đi về phòng trọ ngồi khoảng 10 phút thì bị cáo A cùng Nguyễn Xuân V (con trai của A) tìm đến phòng trọ của bà lúc này tại phòng trọ có bà và ông Mai Văn B (chồng bà), tại đây hai bên tiếp t c chửi nhau, bị cáo đứng khu vực cổng cầm gạch 04 lỗ có sẵn đây ném nhiều lần về phía bà, bà cũng nhặt lên ném lại, bị cáo cầm ghế nhựa ném về phía bà thì bà cầm ghế nhựa đỡ nên không gây ra thương tích gì. Sau đó, bị cáo A tiến về phía bà ch p lấy 01 cây sào gỗ tròn (là cây dùng để đưa quần áo lên giá treo để phơi) một đầu có gắn móc sắt hình chữ S cầm bằng hai tay dơ lên cao đánh nhiều cái hướng từ trên xuống dưới hướng vào người bà. Bà chồng bàn tay trái lên trên mu bàn tay phải dơ lên trán chống đỡ thì bị bị cáo A đánh trúng ngón út bàn tay trái gây thương tích.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 329/2020/TgT ngày 26/8/2020 của Trung tâm pháp y – S y tế Bình Thuận kết luận tỷ lệ thương tích của Kiều Thị Lệ Ánh N1:

- Chấn thương bàn tay trái, gãy kín đầu xa xương bàn V bàn tay trái, đã được điều trị hiện cal xương chưa ổn định, hạn chế cử động gấp ngón, khép ngón V bàn tay trái. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 6% + 3%.

- Chấn thương do vật tày gây ra;

- Chấn thương có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 9%.

Bị cáo không thừa nhận hành vi gây thương tích cho bà N1 nhưng tại các biên bản ghi lời khai ngày 07/12/2020 và ngày 10/12/2020 có sự chứng kiến của bà Mai Thị C bị cáo đã trình bày là bản thân bị cáo đã nhận ra lỗi sai của mình, mong muốn được hoàn tiền thuốc men điều trị cho bà N1 để bà N1 có thể bãi nại cho hành vi gây thương tích của bị cáo. Nếu không gây thương tích cho bà N1 sao bị cáo lại đặt vấn đề được bồi thường cho bà N1 và chính bị cáo đã khẳng định tại thời điểm xảy ra xô xát chỉ có bị cáo và bà N1 xô xát với nhau ngoài ra không có ai. Nên việc bị cáo trình bày không gây thương tích cho bà N1 là không có cơ s chấp nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo và bị hại đều khẳng định là hai bên đã có xảy ra mâu thuẫn về việc tranh chấp nhà thờ, bị cáo không cho vợ chồng bị hại nhà thờ nên vợ chồng bị hại phải thuê trọ, con dâu bị hại sử d ng facebook với tên đăng nhập là Anh nhắn tin xúc phạm bị cáo nên bị cáo tìm gặp bị hại và lớn tiếng chửi mày về dạy lại con dâu của mày” hai bên xảy ra xô xát. Tuy bị hại N1 không trực tiếp xúc phạm bị cáo nhưng bị hại N1 có lỗi trong việc xảy ra xô xát giữa hai bên. Tại phòng trọ của bà N thì hai bên tiếp t c chửi nhau, bị cáo đứng khu vực cổng cầm gạch 04 lỗ có sẵn đây ném nhiều lần về phía bà N1, bà N1 cũng nhặt lên ném lại, bị cáo cầm ghế nhựa ném về phía bà N1 thì bà N cũng cầm ghế ném lại nhưng không có thương tích gì. Như vậy là giữa bị cáo A và bị hại N1 đã có sự xung đột ẩu đã với nhau và bị cáo sử d ng những vật d ng có sẵn tại phòng trọ của bị hại N1 nên cần loại bỏ tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ theo điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự theo truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Hành vi dùng 01 cây sào gỗ tròn dài 1,76m một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm là hung khí nguy hiểm đánh bà N gây thương tích 9% của bị cáo Mai Thị A đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Đối với ý kiến của người bào chữa cho rằng phải xem xét loại bỏ tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ với bị cáo. Nhận thấy bị hại N1 có một phần lỗi trong việc gây thương tích của bị cáo A nên có cơ s chấp nhận việc ý kiến của người bào chữa loại bỏ tình tiết phạm tội có tính chất côn đồ với bị cáo nhưng không có căn cứ để áp d ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra cho bị cáo Mai Thị A.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo được hư ng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nhiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất, mức độ hành vi: Bị cáo dùng 01 cây sào gỗ tròn dài 1,76m một có đầu có gắn móc sắt hình chữ S, chủ động tấn công hướng vào người bà N1 và thái độ chưa thật thành khẩn về hành vi của bị cáo nên cần phải xử lý nghiêm khắc theo ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, nhằm giáo d c bị cáo tr thành người có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm giáo d c và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mâu thuẫn xuất phát trong gia đình; nhận thức pháp luật có phần hạn chế; có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Xét không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hư ng án treo, ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân nơi đang cư trú để giám sát và giáo d c trong thời gian thử thách là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

. Về tang vật của v án: 01 cây sào gỗ tròn (là cây dùng để đưa quần áo lên giá treo để phơi) dài 1,76m, một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm là công c dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy

. Về phần dân sự: Tại phiên tòa hôm nay bị hại thay đổi yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 16.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền theo yêu cầu bị hại là 16.000.000 đồng. Xét đây là sự thỏa thuận của hai bên và sự thỏa thuận này không vi phạm pháp luật nên Hội đồng công nhận sự thỏa thuận của hai bên buộc bị cáo A phải bồi thường cho bị hại N1 số tiền 16.000.000 đồng.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Mai Thị A phạm tội Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Mai Thị A 09 (chín) tháng tù; cho hư ng án treo. Thời gian thử thách đối với bị cáo là 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 04/02/2021.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 và khoản 2 Điều 48 Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Mai Thị A có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm hại sức khỏe cho Kiều Thị Lệ Ánh N1 số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Tiếp t c tạm giữ số tiền 16.000.000 đồng của bị cáo Mai Thị A nộp tại biên lai thu số 0002567, ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Chi c c thi hành án dân sự huyện Tuy Phong để đảm bảo thi hành án.

Trường hợp bên có nghĩa v chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất 10%.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây sào gỗ tròn (là cây dùng để đưa quần áo lên giá treo để phơi) dài 1,76m, một đầu có gắn móc sắt hình chữ S, đầu to có đường kính tròn 03cm, đầu nhỏ có đường kính 2,2cm (tang vật hiện đang được tạm giữ tại Chi c c thi hành án dân sự huyện Tuy Phong theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/12/2020 giữa Công an huyện Tuy Phong với Chi c c Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố t ng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Mai Thị A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 800.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố t ng hình sự bị cáo Mai Thị A và người bị hại Kiều Thị Lệ Ánh N1 có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ