vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 02/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Lê Xuân H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã HNh,thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS – ST
Ngày: 02 – 03 – 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Biên

2. Bà Khương Thị Thanh

- Thư ký phiên toà: Ông Trịnh H Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Kim Duy Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 03 năm 2021, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2021/TLST – HS ngày 03 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2021/QĐXXST – HS ngày 19 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê Xuân H – Sinh năm: 1985 tại xã HNh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; HKTT: Thôn KhV, xã HNh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt nam; Con ông: Lê Xuân H – Sinh năm: 1958 và bà Nguyễn Thị S – Sinh năm: 1959; Vợ: Nguyễn Thị Th – Sinh năm: 1992; Có 02 con: Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/11/2020 đến ngày 20/11/2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” – Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Chị Lê Thị Ng – Sinh năm: 1993; Trú tại: Thôn HNh, xã PhL, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

- Anh Lê Văn M – Sinh năm: 1989; Trú tại: Thôn ThT, xã PhL, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Anh Đỗ Công Đ – Sinh năm: 1988; Trú tại: Tổ dân phố ĐH, phường HB, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h30’ ngày 15/11/2020, Lê Xuân H cùng với Lê Văn M, sinh năm 1989, trú tại thôn ThT, xã PhL, thị xã Nghi Sơn và Đỗ Công Đ, sinh năm 1988, trú tại thôn ĐH (nay là tổ dân phố ĐH), phường Phường HB, thị xã Nghi Sơn đến quán karaoke “Tuấn Hưng” ở thôn HNh, xã PhL, thị xã Nghi Sơn để hát karaoke. Đến khoảng 20h00’ cùng ngày, sau khi hát xong thì H đi ra quầy của quán để tính tiền (M và Đ đang ở trong phòng hát). H thanh toán tiền cho chủ quán là chị Lê Thị Ng – Sinh năm 1993 (trú tại thôn HNh, xã PhL, thị xã Nghi Sơn) hết 150.000đ; sau khi thanh toán thì chị Nga để chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu vàng, bản 64GB của mình ở mặt bàn quầy tính tiền và vào phòng hát để kiểm tra lại đồ khách dùng. Thấy không có ai nên H đã lấy chiếc điện thoại bỏ vào túi áo của mình. Khi M và Đ đi ra thì cả ba người cùng đi về.

Đến ngày 17/11/2020, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Lê Xuân H đã đến Công an xã PhL đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp chiếc điện thoại đã trộm cắp được cho cơ quan Công an.

Tại Kết luận định giá tài sản số 127/KLĐGTS ngày 18/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: “ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, bản 64Gb gửi giám định có giá trị là 3.000.000”.

Đối với Lê Văn M, Đỗ Công Đ là người đi cùng H nhưng không biết việc H trộm cắp chiếc điện thoại nêu trên.

Về vật chứng

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã tạm giữ: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Pus màu vàng đồng, bản 64Gb, số Imei: 353302070678373, đã qua sử dụng.

Xử lý vật chứng:

Ngày 20/11/2020, Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lê Thị Ng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Pus màu vàng đồng, bản 64Gb, số Imei: 353302070678373, đã qua sử dụng .

Phần dân sự: Chị Lê Thị Ng đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu, đề nghị gì.

Bản cáo trạng số: 31/CT – VKS – HS ngày 29/01/2021 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Xuân H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo Lê Xuân H là từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 12 tháng đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về phần dân sự và xử lý vật chứng: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xử lý theo quy định của pháp luật nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thống nhất với tội danh mà nay là VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố. Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Lê Xuân H khai nhận: Khoảng 20h00’ ngày 15/11/2020, tại thôn HNh, xã PhL, thị xã Nghi Sơn; Lê Xuân H có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Pus màu vàng đồng, bản 64Gb, đã qua sử dụng của chị Lê Thị Ng – Sinh năm 1993 (trú tại thôn HNh, xã PhL, thị xã Nghi Sơn). Giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa cũng như lời khai tại CQĐT, phù hợp với lời khai của người bị hại và của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội.

Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận Lê Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực về mọi mặt để nhận thức được hành vi “Trộm cắp tài sản” là hành vi phạm pháp luật và là tội phạm. Song, chỉ vì muốn có được chiếc điện thoại đẹp hơn để sử dụng cùng với sự sơ hở trong quản lý tài sản của người bị hại mà bị cáo đã nổi lòng tham và thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây bất an trong quần chúng nhân dân. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử, buộc bị cáo phải chịu một hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo đã gây ra là cần thiết.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi biết hành vi của mình đã bị phát hiện, bị cáo đã đến Cơ quan Công an xã PhL, thị xã Nghi Sơn xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời giao nộp lại tài sản đã trộm cắp để trả cho người bị hại. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào.

Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội nêu trên, cũng như nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, lại có nơi cư trú rõ ràng, ổn định. Nên nghĩ, không cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 BLHS cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo cũng như thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Về dân sự và xử lý vật chứng: Đã được Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn xử lý xong theo quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Án phí: Buộc bị cáo Lê Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Lê Xuân H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã HNh,thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá, để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23, mục 1 phần I Danh mục án phí, lệ phí Tòa án - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lê Xuân H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ