vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Kiến Tường, tỉnh Long An Tuyên án 11/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo BĐVN phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo BĐVN 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 11 tháng 11 năm 2021). Giao bị cáo BĐVN về Ủy ban nhân dân phường 1,thị xã KT, LA để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo BĐVN có trách nhiệm phối hợp vớ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo BĐVN phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày 11 - 11 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNthị xã KT, LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Khanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền

Bà Lâm Thị Kim Xuyến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy - Thư ký Tòa án nhân dânthị xã KT, LA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthị xã KT, LA tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường An - Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dânthị xã KT, LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

BĐVN, sinh năm 1975 tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Khu phố 3, phường 1,thị xã KT, LA; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Chức (đã chết) và bà Đoàn Thị Lệ Hoa; có vợ Phan Thị Hiền; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012 và nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn Văn Thanh, sinh năm 1976, có mặt.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường 1, thị xã KT, LA.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

+ Ông Nguyễn Thành Cường, sinh năm 1983, vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường 1,thị xã KT, LA.

+ Ông Phan Thanh Trí, sinh năm 1974, vắng mặt.

Địa chỉ: Khu phố 3, phường 1,thị xã KT, LA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào sáng ngày 27 tháng 6 năm 2021, BĐVN và Nguyễn Văn T xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 17 giờ cùng ngày, Thanh cầm con dao Thái Lan dài 20,5cm đến gặp Nở tại chuồng bò của Nở để nói chuyện thì xảy ra cãi nhau. Trong lúc cãi nhau, Nở dùng mũ bảo hiểm nén trúng vào người của Thanh. Nở bỏ chạy ra đường Lê Duẫn, khu phố 3, phường 1; Thanh đi theo Nở, Nở nhặt khúc gỗ dài 100cm đánh một cái từ trên xuống trúng vào cẳng tay trái của Thanh gây thương tích. Sau đó, Phan Thanh Trí nhà ở đối diện đến lấy dao và khúc cây vứt vào đám cỏ ven đường. Thanh được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười.

Tang vật tạm giữ: 01con dao Thái Lan dài 20,5cm, 01 khúc gỗ màu vàng dài 100cm, rộng 5,3cm, dày 1,8cm (do Nở giao nộp tương tự hung khí gây án, 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng. Khúc gỗ Nở đánh Thanh, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không có kết quả.

Tại giấy xác nhận tạm thời của Bệnh viện đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười ngày 27 tháng 6 năm 2021: Sưng nề mặt ngoài cẳng tay (T) đk 3cm kèm xây xát da rải rác. Nề nhẹ vai (T). X quang: Gãy 1/3 dưới xương trụ (T).

Tại Bản kết luận giám định Pháp y về thương tích số 129/TgT.21-PY ngày 19 tháng 8 năm 2021 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Long An kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Hiện tại không ghi nhận tổn thương bên ngoài, gãy 1/3 dưới xương trụ trái, có dấu can xương, di lệch một phần thân xương. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Nguyễn Văn T là 22%.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Thanh yêu cầu Nở bồi thường tiền điều trị là 2.856.000 đồng và tiền công lao động bị mất là 12.000.000 đồng. Nở đã tự nguyện bồi thường tiền điều trị cho Thanh là 2.856.000 đồng nhưng Thanh không nhận nên Cơ quan điều tra đã thu giữ và nộp vào tài khoản của Công an thị xã Kiến Tường. Đến ngày 25/10/2021 bị cáo Nở tiếp tục nộp số tiền 12.000.000đ và Chi cục Thi hành án dân sự đã tạm thu giữ số tiền này. Tổng cộng bị cáo Nở đã nộp số tiền bồi thường, khắc phục hậu quả là 14.856.000đ theo yêu cầu của người bị hại.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSKT ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dânthị xã KT, LA truy tố bị cáo BĐVN về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo BĐVN gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo BĐVN phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, căn cứ vào Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao không cần phải cách ly bị cáo ra xã hội mà giao bị cáo về cho chính quyền địa phương nơi thường trú theo dõi giáo dục cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Đề nghị xử phạt bị cáo BĐVN từ 02 năm đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm, giao UBND phường 1 theo dõi, giám sát, giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo BĐVN đã bồi thường cho người bị hại Nguyễn Văn T tiền điều trị là 2.856.000 đồng và tiền công lao động bị mất là 12.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại nên đề nghị ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và tiếp tục lưu giữ số tiền nêu trên để đảm bảo công tác thi hành án dân sự. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01con dao Thái Lan dài 20,5cm, 01 khúc gỗ màu vàng dài 100cm, rộng 5,3cm, dày 1,8cm do Nở giao nộp tương tự hung khí gây án, 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng.

Về án phí: Bị cáo là hộ cận nghèo nên bị cáo Nở được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo Nở không có ý kiến tranh luận và lời nói sau cùng bị cáo Nở đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo,người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên áp dụng Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Lời khai nhận tội của bị cáo BĐVN trước Tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng với bản kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y Sở y tế Long An, phù hợp với sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, biên bản mô tả vật chứng không thu giữ được và phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Nhận thấy, khoảng 17 giờ ngày 27 tháng 6 năm 2021, Thanh cầm con dao Thái Lan dài 20,5cm đến gặp Nở và cãi nhau, Nở dùng mũ bảo hiểm nén trúng vào người của Thanh. Nở bỏ chạy ra đường Lê Duẫn, khu phố 3, phường 1; Thanh đi theo Nở, Nở nhặt khúc gỗ dài 100cm là hung khí nguy hiểm đánh một cái từ trên xuống trúng vào cẳng tay trái của Thanh gây tỷ lệ thương tích là 22%.

Hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là sẽ gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe của người bị hại và thấy trước hậu quả của hành vi đó là sẽ gây thương tích cho người bị hại nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và để mặc cho hậu quả xảy ra.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nở phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dânthị xã KT, LA truy tố bị cáo BĐVN với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo là lao động chính và gia đình thuộc hộ cận nghèo, có đơn xin bãi nại của bị hại nên đây được xem là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Nở có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù vì người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, bị cáo Nở có đủ điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo quy định tại Điều 65 và Điều 2 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét đề nghị của Kiểm sát viên áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo BĐVN là có căn cứ pháp luật.

Bị cáo đã bồi thường tiền điều trị là 2.856.000 đồng và tiền công lao động bị mất là 12.000.000 đồng cho người bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Về đồ vật thu giữ: Tịch thu tiêu hủy 01con dao Thái Lan dài 20,5cm, 01 khúc gỗ màu vàng dài 100cm, rộng 5,3cm, dày 1,8cm do Nở giao nộp tương tự hung khí gây án, 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo BĐVN đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại Nguyễn Văn T số tiền điều trị là 2.856.000 đồng và tiền công lao động bị mất thu nhập là 12.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và tiếp tục lưu giữ số tiền nêu trên để đảm bảo công tác thi hành án dân sự. Tại phiên tòa bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Nở là hộ cận nghèo thuộc trường hợp được miễn tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

Ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, cần xem xét để áp dụng trong việc giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo BĐVN phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 65; Điều 2, Điều 4, Điều 6 của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Xử phạt bị cáo BĐVN 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 11 tháng 11 năm 2021).

Giao bị cáo BĐVN về Ủy ban nhân dân phường 1,thị xã KT, LA để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo BĐVN có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo BĐVN thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự; Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo Nở đối với bị hại Thanh tổng cộng số tiền là 14.856.000đ; (Số tiền được tạm giữ theo các phiếu thu của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Kiến Tường ngày 04/10/2021 và phiếu thu của Chi cục THADS thị xã Kiến Tường ngày 25/10/2021).

Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01con dao Thái Lan dài 20,5cm, 01 khúc gỗ màu vàng dài 100cm, rộng 5,3cm, dày 1,8cm do Nở giao nộp tương tự hung khí gây án, 01 mũ bảo hiểm màu xanh trắng (vật chứng trên do Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường đang quản lý theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 18 tháng 10 năm 2021)

Về án phí: Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo BĐVN được miễn toàn bộ án phí án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ