- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Dũng T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dũng T phạm tội giết ngƣời.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày 29-9-2021 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân
Thẩm phán:
Bà Lê Hồng Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Nguyễn Thị Ngọc Lan
2. Ông Nguyễn Tấn Phú
3. Ông Lê Trọng Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Như Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước tiến hành xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 30/2020/TLST- HS ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2021/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Dũng T, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1980 tại Bình Phước
Nơi cư trú tại địa chỉ: Khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh Dvà bà Lê Thị H; có vợ là bà Phạm Thị Ng và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án; tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 17/3/202 cho đến nay “có mặt”.
- Người bào chữa cho bị cáo:
1. Ông Lê Văn Ninh-Luật sư Văn phòng Luật sư Xuân-Ninh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước “có mặt”
2. Ông Hồ Phƣơng Bình-Luật sư Văn phòng Luật sư Thành Vinh thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước “có mặt”
- Bị hại: Ông Huỳnh Văn Mãi E, sinh năm 1980
Nơi cư trú tại địa chỉ: Khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
1. Bà Phan Thị D, sinh năm 1981 “có mặt”
Nơi cư trú tại địa chỉ: Khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
2. Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1948 “vắng mặt”
Nơi cư trú tại địa chỉ: Ấp 7, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre
Uỷ quyền tham gia tố tụng cho chị Phan Thị D
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Lê Thị H, sinh năm 1959 “có mặt”
2. Bà Phạm Thị Ng, sinh năm 1981“có mặt”
Cùng cư trú tại địa chỉ: Khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Người làm chứng
1. Ông Phan Văn U, sinh năm 1983 “có mặt”
Nơi cư trú tại địa chỉ: Khu Đức Thọ, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1970 “vắng mặt”
Nơi cư trú tại địa chỉ: Khu phố Tân Hưng, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
3. Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1973 “vắng mặt”
4. Ông Nguyễn P, sinh năm 1958 “vắng mặt’
Cùng nơi cư trú tại địa chỉ: Khu Đức Lập, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2020, bị cáo Nguyễn Dũng T và các ông Nguyễn P, Nguyễn Duy C, Đỗ Văn H, Huỳnh Văn T, Phan Văn U và bị hại Huỳnh Văn Mãi E cùng có mặt tại quán bida “Nhân Phát” trên đường Lê Quý Đôn thuộc khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Trong lúc xem mọi người đánh bida thì bị cáo ghi điểm còn bị hại rót bia cho mọi người uống theo thứ tự. Tuy nhiên, bị hại rót được khoảng một lúc thì không chịu rót tiếp thì bị cáo nói bị hại rót bia uống nhưng bị hại không làm theo nên bị cáo chửi và đuổi bị hại về dẫn đến hai bên xảy ra mâu thuẫn, thách thức đánh nhau. Sau đó, bị hại đi ra lấy xe mô tô, đội nón bảo hiểm rồi quay xe ra để đi về, còn bị cáo đi lại cạnh bàn bida phía ngoài đường đứng. Khi bị hại quay xe ra thì bị cáo tiếp tục chửi nên bị hại cởi nón bảo hiểm cầm trên tay quay lại phía bị cáo đứng. Thấy bị hại quay lại thì bị cáo đi đến kệ lấy 01 cây cơ bida, tay phải bị cáo cầm ở phần đầu nhỏ của cây cơ đi lại chỗ bị hại đang đứng. Khi bị cáo đi đến thì bị hại khom người đưa đầu về trước, hơi nghiêng người về bên trái thách thức bị cáo“Mày ngon mày đập tao đi” thì bị cáo vung cây cơ lên cao qua đầu đánh 01 cái từ trên xuống trúng vào đầu bị hại làm gãy đôi cây cơ bida. Sau đó, bị cáo bỏ đi về còn bị hại được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước.
- Vật chứng thu giữ: 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 103cm, đầu nhỏ có đường kính 1,2cm, đầu lớn có đường kính 2,65cm; và 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 44cm, đầu nhỏ có đường kính 2,65cm, đầu lớn có đường kính 3,2cm
- Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 43/2021/TgT ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Trung tâm Pháp y– Sở Y tế tỉnh Bình Phước kết luận đối với bị hại Huỳnh Văn Mãi Em:
“1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Chấn thương đầu máu tụ dưới màng cứng bán cầu phải + dập não + máu tụ ngoài màng cứng + vỡ xương sọ đã phẫu thuật mở sọ lấy máu tụ, di chứng khuyết sọ bán cầu phải đường kính 13 x 11 cm đáy phập phồng, kiểu sống thực vật.
- Sẹo mổ trán – đỉnh – thái dương phải kích thước 27 x 0,3cm gọn.
- Sẹo thái dương phải kích thước 3 x 2 cm phẳng.
- Vai phải không thấy dấu vết tổn thương.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 99% (chín mươi chín phần trăm).”
- Tại Kết luận giám định số 2778/C09B ngày 24 tháng 5 năm 2021 của Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Khoa học Hình sự kết luận: “02 (hai) phần cây cơ bida gửi giám định gãy ra từ một cây cơ bida”.
- Tại Bản kết luận Giám định Pháp y qua hồ sơ số 155/2021/HS ngày 04 tháng 6 năm 2021 của Trung tâm Pháp y- Sở Y tế tỉnh Bình Phước kết luận: “Với tư thế thực nghiệm điều tra (biên bản thực nghiệm điều tra hồi 09 giờ 00 phút ngày 21 tháng 5 năm 2021, các hình từ 37 đến 51), khi Nguyễn Dũng T cầm cây cơ bida còn nguyên vẹn tác động vào cơ thể có thể gây ra được thương tích vùng đầu bên phải và vai phải của Huỳnh Văn Mãi Em.”
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-P2 ngày 14 tháng 6 năm 2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước và tại phiên toà truy tố bị cáo Nguyễn Dũng T về tội giết người theo quy định tại các điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị cáo Nguyễn Dũng T đã hoàn toàn thừa nhận việc phạm tội và hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã được tóm tắt ở trên nên có đủ căn cứ kết luận: Sau khi đã uống rất nhiều bia, mâu thuẫn cãi nhau qua lại với bị hại Huỳnh Văn Mãi E trong khi xem đánh bida tại quán bida “Nhân Phát” trên đường Lê Quý Đôn thuộc khu L, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước nên vào khoảng 16 giờ ngày 15 tháng 12 năm 2020, ngay sau khi có sự thách thức của bị hại, bị cáo lấy 01 cây cơ bi da có sẵn là hung khí nguy hiểm vung lên đánh rất mạnh 01 cái từ trên cao xuống trúng vào đầu bị hại khi đang đứng đối diện, gây vỡ xương sọ não, dập não với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 99%. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các kết luận giám định, biên bản, bản ảnh, sơ đồ khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, lời khai của những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác của vụ án nên có đầy đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm vào tội giết người-có tính chất côn đồ nhưng chưa đạt, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự; do đó, việc truy tố của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền được sống của bị hại Huỳnh Văn Mãi E -việc bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân nơi vụ án xảy ra nên cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm minh tù có thời hạn tương xứng, phù hợp để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Dũng T chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn-con cái còn nhỏ, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường khắc phục với tổng số tiền 560 triệu đồng và được người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu giảm nhẹ một phần hình phạt, hơn nữa trong vụ án này bị hại cũng có một phần lỗi là có lời nói thách thức, kích động bị cáo đánh bị hại là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có rất nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên cần xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, ngoài ra bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt nên khi quyết định hình phạt còn phải quyết định hình phạt cho bị cáo theo Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại phiên toà, bà Phan Thị D thừa nhận đã có nhận được bồi thường, khắc phục thiệt hại của bị cáo với tổng số tiền 560 triệu đồng. Tuy nhiên, do bà D chưa có điều kiện để chứng minh được tổng số tiền mà bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại cụ thể, chi tiết các khoản là bao nhiêu nên bà D yêu cầu được tách phần bồi thường thiệt hại này ra để yêu cầu sau. Xét thấy yêu cầu của bà D là tự nguyện được bị cáo đồng ý và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự nên chấp nhận tách vấn đề bồi thường thiệt hại ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự theo Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự khi có yêu cầu.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 103cm, đầu nhỏ có đường kính 1,2cm, đầu lớn có đường kính 2,65cm; và 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 44cm, đầu nhỏ có đường kính 2,65cm, đầu lớn có đường kính 3,2cm đều là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Quan điểm của Kiểm sát viên-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng T trong phạm vi mức án từ 06 đến 07 năm tù là tương xứng nên được chấp nhận.
Quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Dũng T đề nghị xét xử bị cáo trong phạm vi mức án dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên là không tương xứng nên không được chấp nhận.
Án phí hình sự, bị cáo Nguyễn Dũng T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Dũng T phạm tội giết ngƣời.
2. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 15, 38, 50, 57 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Dũng T 07(bảy) năm tù; thời hạn tù kể từ ngày 17 tháng 3 năm 2021.
3. Căn cứ Điều 30 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tách trách nhiệm bồi thường thiệt hại ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu.
4. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 103cm, đầu nhỏ có đường kính 1,2cm, đầu lớn có đường kính 2,65cm; và 01 phần cây cơ bida bị gãy dài 44cm, đầu nhỏ có đường kính 2,65cm, đầu lớn có đường kính 3,2cm.
5. Bị cáo Nguyễn Dũng T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Bị cáo, người đại diện của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án ND cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát cấp cao tại TP.HCM; - Viện kiểm sát ND tỉnh Bình Phước; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Phước; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Cục Thi hành án DS tỉnh Bình Phước; - Bị cáo; - Người đại diện HP của bị hại; - Người CQL,NVLQ; - Người bào chữa; - Cổng thông tin điện tử TANDTC; - Lưu Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Nhân |