vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 30/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thảo E - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày 30 - 9 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Xuyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Văn Sáu

2. Bà Trần Thị Phương Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhựt, Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Phan Trường Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

NGUYỄN THẢO E (tên gọi khác: T, U), sinh năm 1993; tại Bạc Liêu; giới tính: Nam. Nơi cư trú: Ấp C, xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q (sinh năm 1958) và bà Trần Thị K (sinh năm 1959); anh, chị, em ruột: 06 người (lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất là bị cáo); có vợ là Võ Thị Kiều O (sinh năm 1996, đã ly hôn) và 01 người con (sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại “có mặt”.

- Bị hại: Ông Võ Văn T, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp T, xã C1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ ngày 06 tháng 3 năm 2021, sau khi uống rượu cùng ông Võ Ngọc T và ông Lê Văn B, Nguyễn Thảo E đi đến nhà ông Võ Văn T thuộc ấp T, xã C1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu với mục đích gặp anh Võ Văn Q hỏi rõ nguyên nhân vào ngày 05 tháng 3 năm 2021, anh Võ Văn Q đã nói “Thảo E nói xạo, mai mốt đừng gặp tao nữa”. Đến nhà ông Võ Văn T, Nguyễn Thảo E gặp bà Lý Kim T đang làm vườn ở trước nhà nên hỏi “Q có nhà không”, bà Lý Kim T trả lời “Q đi làm không có nhà”, Nguyễn Thảo E nói lại “nếu Q không nói rõ thì tôi đốt cái nhà này”, bà Lý Kim T nói tiếp “mày đốt được thì đốt đi”. Ông Võ Văn T đang làm vườn phía sau nhà nghe vậy cũng đi ra phía trước nhà. Lúc này, Nguyễn Thảo E đi sang nhà ông Phạm Văn T lấy 01 (một) đoạn gỗ dài khoảng 02m, sau đó dùng đoạn gỗ đánh vào vùng lưng của bà Lý Kim T làm bà Lý Kim T ngã xuống. Ông Võ Văn T nhìn thấy Nguyễn Thảo E dùng cây gỗ đánh bà Lý Kim T nên đi đến can ngăn thì bị Nguyễn Thảo E dùng đoạn gỗ đánh vào người. Khi bị đánh, ông Võ Văn T đi lùi về phía sau và đưa hai tay lên đỡ nên đoạn gỗ gãy thành 02 (hai) đoạn và ông Võ Văn T bị ngã, Nguyễn Thảo E tiếp tục dùng 01 (một) đoạn gỗ đánh trúng vào vùng đầu của ông Võ Văn T thì được ông Võ Ngọc T đến can ngăn. Nguyễn Thảo E bỏ lại các đoạn gỗ đã sử dụng để đánh ông Võ Văn T tại hiện trường và bỏ đi.

Sau khi sự việc xảy ra, bà Lý Kim T trình báo và giao nộp 02 (hai) đoạn gỗ mà Nguyễn Thảo E dùng đánh ông Võ Văn T cho Công an xã C1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Ông Võ Văn T được đưa đến Trung tâm Y tế huyện V, sau đó được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bạc Liêu điều trị đến ngày 16/3/2021 thì xuất viện.

Ngày 08/3/2021, ông Võ Văn T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Nguyễn Thảo E.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 81/TgT ngày 20 tháng 4 năm 2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của ông Võ Văn T như sau: Một sẹo ở đỉnh trái, tỷ lệ 02%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trên xuống dưới; một sẹo mổ ở mặt sau cẳng tay phải, tỷ lệ 02%; Gãy 1/3 giữa xương trụ phải, can liền tốt, trục thẳng, tỷ lệ 08%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ phải qua trái; sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở cánh tay trái, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải; sây sát để lại vết biến đổi sắc tố da ở mu bàn tay trái, tỷ lệ 0,5%. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải; hết sung nề chẩm trái: Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế về việc quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y (sau đây viết tắt là Thông tư số 22) không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ sau ra trước; hết sưng bầm cánh tay trái: Theo Thông tư số 22 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải; hết sưng bầm cẳng tay trái: Theo Thông tư số 22 không quy định tỷ lệ. Cơ chế hình thành thương tích là do vật tầy tác động từ trái qua phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 13%.

Tại Kết luận giám định số 2489/C09B ngày 29 tháng 4 năm 2021 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận mẫu cần giám định là 01 (một) đoạn cây gỗ dài 120cm, hai đầu bị gãy nhọn, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 5 x 4 x 5)cm, trên thân gỗ có đóng 02 (hai) cây đinh và 01 (một) đoạn cây gỗ dài 80cm, một đầu gãy nhọn, một đầu bằng, trên thân gỗ có đóng 01 (một) cây đinh, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 6 x 4 x 6)cm như sau: Dấu vết gãy trên 02 (hai) khúc cây gỗ gửi giám định trùng khớp với nhau, được gãy ra từ 01 (một) khúc cây gỗ, khi sử dụng khúc cây gỗ này tác động lên cơ thể người gây thương tích là hung khí nguy hiểm. Nếu sử dụng 02 (hai) khúc cây gỗ (kể cả đinh đóng trên thân gỗ) gửi giám định tác động lên cơ thể người gây thương tích là hung khí nguy hiểm.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Võ Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thảo E bồi thường chi phí điều trị thương tích, tiền mất thu nhập, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 50.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thảo E đồng ý bồi thường theo quy định của pháp luật và đã tự nguyện khắc phục số tiền 5.000.000 đồng cho ông Võ Văn T.

Về vật chứng: 01 (một) đoạn cây gỗ dài 120cm, hai đầu bị gãy nhọn, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 5 x 4 x 5)cm, trên thân gỗ có đóng 02 (hai) cây đinh và 01 (một) đoạn cây gỗ dài 80cm, một đầu gãy nhọn, một đầu bằng, trên thân gỗ có đóng 01 (một) cây đinh, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 6 x 4 x 6)cm, được niêm phong và bảo quản theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Nguyễn Thảo E về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thảo E theo như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thảo E phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị Nguyễn Thảo E từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự, căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Nguyễn Thảo E phải bồi thường cho ông Võ Văn T chi phí điều trị theo toa vé hợp lệ, tiền xe, tiền mất thu nhập của người bệnh trong 01 tháng, tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh trong thời gian người bệnh nằm viện, tiền tổn thất tinh thần với tổng số tiền 31.485.644 đồng, bị cáo Nguyễn Thảo E đã khắc phục được 5.000.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường số tiền 26.485.644 đồng. Về xử lý vật chứng, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 (một) đoạn cây gỗ dài 120cm, hai đầu bị gãy nhọn, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 5 x 4 x 5)cm, trên thân gỗ có đóng 02 (hai) cây đinh và 01 (một) đoạn cây gỗ dài 80cm, một đầu gãy nhọn, một đầu bằng, trên thân gỗ có đóng 01 (một) cây đinh, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 6 x 4 x 6)cm. Bị cáo Nguyễn Thảo E phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Thảo E thừa nhận hành vi phạm tội cố ý gây tích cho bị hại Võ Văn T, đồng ý bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Võ Văn T theo quy định của pháp luật và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát và cũng không nói lời nói sau cùng. Bị hại Võ Văn T yêu cầu xử lý về hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thảo E theo quy định của pháp luật; về trách nhiệm dân sự, bị hại Võ Văn T vẫn yêu cầu bị cáo Nguyễn Thảo E bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng và không có ý kiến tranh luận với Bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo quy định pháp luật về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến, khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo Nguyễn Thảo E phù hợp với lời khai của bị hại Võ Văn T và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở khẳng định: Mặc dù giữa bị cáo Nguyễn Thảo E và ông Võ Văn T không có mâu thuẫn, nhưng vào khoảng 17 giờ ngày 06/3/2021, tại nhà ông Võ Văn T thuộc ấp T, xã C1, huyện V, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Nguyễn Thảo E đã vô cớ dùng đoạn cây gỗ (là hung khí nguy hiểm) đánh gây thương tích cho ông Võ Văn T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thảo E đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “Dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Thảo E khi thực hiện hành vi phạm tội là người đã trưởng thành, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm xâm phạm sức khỏe của ông Võ Văn T.

Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Thảo E phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thảo E, bị cáo Nguyễn Thảo E thực hiện hành vi phạm tội với quyết tâm cao, mong muốn cho hậu quả xảy ra và thực tế ông Võ Văn T đã bị thương tích với tỷ lệ 13%; hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thảo E là nguy hiểm, không chỉ trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của ông Võ Văn T, được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự tại địa phương nên cần phải xử phạt nghiêm. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thảo E thành khẩn khai báo, đã tự nguyện khắc phục một phần chi phí điều trị thương tích cho ông Võ Văn T; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” và “người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, bị cáo Nguyễn Thảo E còn có người thân là người có công (ông nội của bị cáo Nguyễn Thảo E là ông Nguyễn Văn P là liệt sĩ, được Nhà nước truy tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì), đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, giảm nhẹ một phần hình phạt khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo Nguyễn Thảo E và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ theo quy định các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự và tinh thần của mục 1 Phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thì yêu cầu bồi thường thiệt hại của ông Võ Văn T chỉ được chấp nhận đối với các khoản tiền sau đây:

Chi phí điều trị thương tích theo toa vé hợp lệ là 4.985.644 đồng;

Tiền xe đi điều trị, tái khám, giám định từ nhà đến Trung tâm Y tế huyện V, từ Trung tâm Y tế huyện V đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bạc Liêu, từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bạc Liêu về nhà vào ngày 06/3/2021, từ nhà đến Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu vào ngày 08/3/2021 và từ Bệnh viện Đa khoa Bạc Liêu về nhà vào ngày 16/3/2021, từ nhà đến Trung tâm Pháp y và ngược lại vào ngày 09/4/2021 là 800.000 đồng;

Tiền mất thu nhập của người bệnh từ khi bị đánh gây thương tích đến khi được xuất viện (từ ngày 06/3/2021 đến ngày 16/3/2021 là 11 ngày), tính theo thu nhập bình quân của lao động phổ thông tại địa phương: 200.000 đồng/ngày x 11 ngày = 2.200.000 đồng;

. Tiền mất thu nhập của người nuôi bệnh trong thời gian người bệnh nằm viện (từ ngày 08/3/2021 đến ngày 16/3/2021 là 09 ngày), tính theo thu nhập bình quân của lao động phổ thông tại địa phương: 200.000 đồng/ngày x 09 ngày =1.800.000 đồng;

Tiền tổn thất tinh thần theo mức độ thiệt hại: 15.000.000 đồng.

Tổng cộng bị cáo Nguyễn Thảo E phải bồi thường cho ông Võ Văn T số tiền là 4.985.644 đồng + 800.000 đồng + 2.200.000 đồng + 1.800.000 đồng + 15.000.000 đồng = 24.785.644 đồng. Bị cáo Nguyễn Thảo E đã nộp khắc phục số tiền 5.000.000 đồng để bồi thường cho ông Võ Văn T nên bị cáo Nguyễn Thảo E còn phải tiếp tục bồi thường cho ông Võ Văn T số tiền còn lại là 24.785.644 đồng – 5.000.000 đồng = 19.785.644 đồng.

Đối với các khoản tiền ông Võ Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thảo E bồi thường gồm: Tiền phẫu thuật lấy inox ra 5.000.000 đồng, chi phí này thực tế chưa phát sinh, khi nào phát sinh ông Võ Văn T có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu bị cáo Nguyễn Thảo E bồi thường; tiền ăn bồi dưỡng cho người bệnh trong thời gian nằm viện (từ ngày 08/3/2021 đến ngày 16/3/2021 là 09 ngày): 150.000 đồng/ngày x 09 ngày = 1.350.000 đồng và tiền mất thu nhập trong những ngày không nằm viện điều trị là 01 tháng 19 ngày, xét thấy trong thời gian ông Võ Văn T nằm viện điều trị không có chỉ định của bác sĩ về việc ăn uống bồi dưỡng sức khỏe và sau khi ông Võ Văn T xuất viện cũng không có chỉ định của bác sĩ phải nghỉ ngơi, không được lao động nên căn cứ theo tinh thần của mục 1 Phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) đoạn cây gỗ dài 120cm, hai đầu bị gãy nhọn, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 5 x 4 x 5) cm, trên thân gỗ có đóng 02 (hai) cây đinh và 01 (một) đoạn cây gỗ dài 80cm, một đầu gãy nhọn, một đầu bằng, trên thân gỗ có đóng 01 (một) cây đinh, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4 x 6 x 4 x 6) cm được niêm phong; xét đây là hung khí do bị cáo Nguyễn Thảo E sử dụng để đánh bà Lý Kim T, ông Võ Văn T và gây thương tích cho ông Võ Văn T nhưng giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Thảo E phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

Đối với thương tích của bà Lý Kim T, do không nhập viện điều trị, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

2. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho ông Võ Văn T số tiền 19.785.644 đồng (Mười chín triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn sáu trăm bốn mươi bốn đồng).

4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đoạn cây gỗ dài 120 cm, hai đầu bị gãy nhọn, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4x5x4x5) cm, trên thân gỗ có đóng 02 (hai) cây đinh và 01 (một) cây gỗ dài 80cm, một đầu gãy nhọn, một đầu bằng, trên thân gỗ có đóng 01 (một) cây đinh, nơi nguyên vẹn có các cạnh (4x6x4x6) cm được niêm phong.

(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Bạc Liêu đang quản lý theo Biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 14 tháng 9 năm 2021).

6. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23; điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Thảo E (T, U) phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 989.282 đồng (Chín trăm tám mươi chín nghìn hai trăm tám mươi hai đồng) án phí dân sự có giá ngạch.

7. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8. Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ