vanban.org

Bản án 27/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Chiếm đoạt con dấu”. Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn T - Tội chiếm đoạt con dấu - phạm tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (điều 342 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HS-ST
Ngày: 30-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vũ Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Hoàn;

Ông Hoàng Đức Anh;

-Thư ký phiên toà: Ông Nông Văn An -Thư ký TAND huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2021/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

Đinh Văn T; Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 12 tháng 10 năm 1984; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 10/12 phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1959; Con bà: Đinh Thị A, Sinh năm: 1957; Vợ: Đinh Thị L, sinh năm 1987; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; Anh, chị em: Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 02 anh em.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/9/2021 (có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

UBND xã Vân Trình, đại diện hợp pháp là ông Đinh Xuân C - Phó chủ tịch UBND xã Vân Trình (có mặt).

- Những người làm chứng:

1/. Ông Nguyễn Trọng H

Trú tại: Thôn Đ, Thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng (vắng mặt- có lý do).

2/. Bà Hoàng Thị T

Trú tại: Thôn N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng (vắng mặt- có lý do).

3/. Ông Mã T Sỹ

Trú tại: Tổ B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng (vắng mặt- có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ, ngày 24/3/2021 Công an xã Vân Trình, Thạch An, Cao Bằng nhận được tố giác của anh Đinh Xuân C, sinh năm 1972, trú tại: Thôn P, xã V, huyện T, Cao Bằng về việc Ủy ban nhân dân xã Vân Trình bị mất con dấu hành chính tại phòng làm việc một cửa. Tiếp nhận tố giác Công an xã Vân Trình T hành điều tra, xác minh. Quá trình điều tra xác minh, Công an xã Vân trình xác định Đinh Văn T, sinh năm 1984, trú tại: Thôn N, xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng là người đã chiếm đoạt con dấu của Ủy ban nhân dân xã Vân Trình. Vật chứng thu giữ gồm: 01 con dấu hình tròn, 02 con dao và 01 xe mô tô.

Quá trình điều tra xác định được như sau: Khoảng 07 giờ ngày 24/3/2021, Đinh Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α, BKS 11B1- 352.38 từ nhà chở con đi học tại trường THCS Thị Ngân. Sau khi đưa con đi học T vào cửa hàng tạp hóa ông Đinh Mùi C, sinh năm 1976, ở gần Ủy ban nhân dân xã Vân Trình, Thạch An, Cao Bằng mua 5.000đồng rượu để uống. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày sau khi uống rượu xong T đi vào Ủy ban nhân dân xã Vân Trình làm thủ tục giấy tờ cam kết trả nợ. Sau khi làm xong thủ tục giấy tờ T đi vào phòng một cửa của Ủy ban, khi vào đến phòng không có ai ở trong đó. Do bức xúc từ trước, lúc này T nảy sinh ý định chiếm đoạt con dấu để làm khó cho Ủy ban. Tại đây T quan sát xung quanh không có ai nên T lại gần chiếc bàn để hộp dấu bằng kim để dưới gầm bàn làm việc. Sau đó T cầm hộp đựng dấu lên kiểm tra bên trong có nhiều con dấu khác nhau và cầm lấy con dấu hình tròn (dấu hành chính) của Ủy ban nhân dân xã. Sau khi chiếm đoạt được con dấu, T điều khiển xe mô tô đi về nhà ở, đến nhà T lấy con dấu vừa chiếm đoạt được giấu vào trong cốp xe mô tô và đi ngủ. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày thì có đồng chí Nguyễn Trọng H - Phó trưởng công an xã Vân Trình và Đinh Văn L - công an viên đến nhà T hỏi về việc giao nộp ra con dấu nhưng T không thừa nhận việc chiếm đoạt con dấu. Sau một thời gian vận động thuyết phục không được T từ trong nhà cầm theo con dao quắm màu đen ra nói " mày bảo tao ăn trộm à, tao chém chết, chém chết". Sau đó T dùng con dao quắm đang cầm trên tay đuổi theo Nguyễn Trọng H khoảng 20m thì dừng lại quay về nhà chốt cửa lại. Khoảng 15 phút sau có đồng chí Mã Tiến S, Phó trưởng công an xã Vân Trình xuống vận động, thuyết phục T, T nghe thấy vậy cầm con dao nhọn màu đen mở cửa ra. Sau khi mở cửa T dùng tay trái tát mạnh vào mặt của đồng chí S một cái rồi đi vào nhà chốt cửa lại. Do tình hình diễn biến phức tạp nên lực lượng chức năng đã tiến hành biện pháp nghiệp vụ bắt giữ T cùng tang vật (Con dấu đã được trả lại cho UBND xã Vân Trình).

Ngày 11/5/2021 cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện ra Quyết định trưng cầu giám định tâm thần đối với Đinh Văn T. Tại bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 239/KL-GĐ ngày 26/7/2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Bộ y tế kết luận: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội đối tượng Đinh Văn T có hội chứng nghiện rượu. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.2. Tại các thời điểm trên đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định đối tượng Đinh Văn T có hội chứng nghiện rượu hiện đang cai nhưng trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F10.21. Đối tượng đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. ( Bút lục số: 78, 79, 113, 114).

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 11B1- 352.38 quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô thuộc sở hữu của bà Đinh Thị A, sinh năm 1957 (mẹ đẻ T), do bà A không biết T dùng xe vào việc phạm tội nên ngày 19/5/2021 cơ quan cảnh sát điều tra trả lại cho bà A.

Hành vi trên đây của bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch An lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Chiếm đoạt con dấu”.

Tại Bản cáo trạng số: 25/CT-VKSTA ngày 26-10-2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đã truy tố: Đinh Văn T về tội “Chiếm đoạt con dấu” quy định tại khoản 1, Điều 142 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố và Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại, khoản 1 Điều 342. Áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Chiếm đoạt con dấu” mức xử phạt bị cáo: Từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo.

Về Xử lý vật chứng, đề nghị tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ do không còn giá trị sử dụng, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đại diện hợp pháp của UBND xã Vân trình xác định chưa có thiệt hại gì xẩy ra đối với UBND, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. đề nghị HĐXX xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận:

- Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời nói sau cùng, các bị cáo thể hiện:

Bị cáo nhận thức được hành vi của minh là sai, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở lại gia đình làm lại con người.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của những tài liệu, chứng cứ do cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Thạch An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, Kiểm sát viên thu thập và về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập thể hiện trong hồ sơ vụ án. Phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Bị cáo Đinh Văn T do có bức xúc từ trước với UBND xã Vân Trình, nên trong lúc lên làm việc tại UBND, khi đi qua phòng một cửa của UBND xã Vân Trình, lợi dụng lúc không có ai ở trong phòng (phòng một cửa) T đã lén lút lấy đi 01 con dấu hình tròn (dấu hành chính) của Ủy ban nhân dân xã. Sau khi lấy được con dấu, T điều khiển xe mô tô đi về nhà ở, đến nhà T lấy con dấu vừa chiếm đoạt được giấu vào trong cốp xe mô tô và đi ngủ. Hành vi của Đinh Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Chiếm đoạt con dấu”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 342 BLHS.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Đinh Văn T theo khoản 1 Điều 342 BLHS và Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét tính chất vụ án trên là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, là khách thể được pháp luật Hình sự Việt Nam bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý con dấu của cán bộ phụ trách quản lý con dấu, đã lén lút lấy trộm con dấu của UBND xã Vân Trình nhằm giải tỏa bức xúc cá nhân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm đấu tranh phòng ngừa tội phạm, đảm bảo tình hình an ninh chính trị tại địa phương nói riêng cũng như đảm bảo trật tự xã hội. Tuy nhiên, trước khi lượng hình HĐXX sẽ xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

+ Tình tiết tăng nặng: Không có

+ Tình tiết giảm nhẹ:

- Xét nhân thân của bị cáo:

Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tại phiên Tòa cũng như trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, bố của bị cáo là ông Nguyễn Văn H được chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng 3, nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo là phù hợp.

Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự, tội phạm được thực hiện một cách giản đơn. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do đó xét không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hình phạt tù nhưng hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của BLHS về án treo cũng đủ răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xử phạt bị cáo Bị cáo Đinh Văn T 09 năm đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo là có căn cứ cần được chấp nhận. Bị cáo thuộc đối tượng hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Chưa có thiệt hại gì xẩy ra, UBND xã Vân Trình không có đơn yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, HĐXX không xem xét.

Xử lý vật chứng theo vụ án:

- Xét cần tịch thu tiêu hủy những vật chứng do không còn giá trị sử dụng:

+ 01 (Một) con dao quắm, cán bằng gỗ, chiều dài cả cán là 41cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,4cm trên lưỡi dao có chữ AK, dao đã qua sử dụng.

+ 01 (Một) con dao nhọn bằng kim loại chiều dài cả cán là 38cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm, trên phần lưỡi dao có chữ AK, dao đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng nêu trên đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An chuyển và lưu giữ tại kho của chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2021.

Các vấn đề khác: Con dấu bị cáo lấy đi đã được Công an xã Vân Trình bàn giao lại cho UBND xã Vân Trình ngày 24/3/2021; Chiếc xe máy thu giữ của bị cáo có BKS: 11B1- 352.38 đã trả cho bà Đinh Thị A là chủ xe là đúng quy định nên HĐXX không xem xét thêm.

Về án phí: Quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử sẽ xem xét theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Trách nhiệm hình sự:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 342; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; Căn cứ Điều 2, Điều 6 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS.

- Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Chiếm đoạt con dấu”.

- Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Văn T cho UBND xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đinh Văn T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Vân Trình, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên quy định tại Điều 64 Luật thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ Luật hình sự

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 BLHS; Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Tuyên tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (Một) con dao quắm, cán bằng gỗ, chiều dài cả cán là 41cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 3,4cm trên lưỡi dao có chữ AK, dao đã qua sử dụng.

+ 01 (Một) con dao nhọn bằng kim loại chiều dài cả cán là 38cm, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 5,7cm, trên phần lưỡi dao có chữ AK, dao đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng nêu trên đã được Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An chuyển và lưu giữ tại kho của chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An theo quyết định chuyển vật chứng số 19/QĐ-VKS ngày 26 tháng 10 năm 2021.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc:

Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật TTHS;

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ