- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:27/2021/HS-ST Ngày 27-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG - TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Duy Học
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Tạ Văn Khách
Ông Nguyễn Duy Khải
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Bùi Quang Thế, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 43/2021/HSST ngày 08 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-HS ngày 18/3/2021 đối với bị cáo:
Vũ Việt H, sinh năm 1987 tại Bình Phước; HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 6, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đức H, sinh năm 1953 và bà Phan Thị Y, sinh năm 1963; gia đình có 4 chị em và bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Bị cáo có vợ là Phan Thị Cẩm H, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và có 01 người con tên Vũ Thị Hoàng L, sinh năm 2007.
Tiền án: Ngày 16/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” đến ngày 22/8/2018 được tha tù trước thời hạn.
Tiền sự không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2021 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Phạm Thị P, sinh năm 1973 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Hoàng Văn T, sinh năm 1962 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 3, xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Việt H và Phạm Thị P, sinh năm: 1973, HKTT: Thôn T, xã B, huyện P có mối quan hệ dì cháu.
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 20/11/2020, H điều khiển xe mô tô, biển số 47N1-0032 đến nhà bà P mục đích để chơi. Khi tới nhà bà P do không có ai ở nhà nên H nảy sinh ý định lấy trộm tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. H đi ra phía sau bếp dùng 01 mỏ lết (lấy ở phía sau nhà bà P) cạy cửa sổ ở bếp để trèo vào nhà lấy 01 bình gas (loại 12kg) rồi mở cửa sau mang bình gas ra xe để rồi tiếp tục đi vào nhà lấy 01 tivi hiệu samsung, màu đen, 49 inch để ở phòng khách mang ra xe rồi dùng dây thun (lấy ở nhà bà Phượng) cột bình gas phía sau, còn ti vi để phía trước và lấy cái áo mưa gần đó che lại chở đi tiêu thụ. Trên đường đi thì bị ông Bùi Văn T, sinh năm: 1969, HKTT: Thôn T, xã B và Hoàng Văn H, sinh năm: 1994, HKTT: Thôn T, xã B (ông T và H là hàng xóm với bà P) phát hiện nên H dùng xe môt tô đuổi theo thì nhận ra H. H nói H “Tại sao lại lấy đồ nhà dì P” thì H nói anh có việc cần tiền lắm, đừng nói cho ai biết”. Do H chạy xe nhanh, H không đuổi kịp nên quay xe về nói cho ông T biết H là người lấy trộm tài sản nhà bà P, ông T gọi điện thoại báo cho bà P biết. Còn H, trên đường đang chở ti vi hiệu samsung và bình thì gặp ông Hoàng Văn T, sinh năm: 1962, HKTT: Thôn 3, xã L, huyện P đang làm vườn nên H nói “ chuyển nhà nên bán rẻ tivi và bình ga thì ông T đồng ý mua tivi với giá 500.000 đồng, bình gas với giá 120.000 đồng, số tiền này H tiêu xài cá nhân hết 380.000 đồng, còn lại 240.000 đồng (bút lục: 128).
Bà P sau đó đến cơ quan công an để trình báo sự việc (bút lục: 01).
Vật chứng thu giữ: Thu giữ tại hiện trường một lưỡi dao kim loại rỉ sét dài 30cm, rộng 4cm; một cây kéo kim loại, tay cầm bọc nhựa màu tím, dài 23cm; một đế để ti vi dạng hình cung dài 72cm, gồm phần nhựa bên ngoài bọc phần kim loại bên trong, có dấu vết bể tại vị trí giữa của đế và một xô nhựa màu vàng cao 32,5cm, đáy có đường kính 23cm, miệng xô có đường kính 28cm (bút lục: 34).
Quá trình điều tra thu giữ của Vũ Việt H: 01 xe mô tô sirius, màu xám, biển số 47N1 – 0032; Số tiền 240.00 đồng; một quần jean ngắn màu xanh; một áo thun có cổ màu xanh tím, cổ áo có chữ “ANTCOLLECTION”; một nón bảo hiểm màu xám đen; một mỏ lết bằng kim loại dài 20 cm (bút lục: 48A) . Thu giữ : một ti vi hiệu Samsung, 49 in; một bình gas màu xám, có gas bên trong (loại lớn), cân nặng 16,4 kg; một chân đế ti vi bằng nhựa , một sợi dây thun và một áo mưa bằng nhựa màu xanh đen bị rách do Hoàng Văn T giao nộp (bút lục: 48).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 100/KL-HĐĐG ngày 25/11/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Riềng xác định: Tại thời điểm ngày 20/11/2020, một tivi hiệu Samsung, 49inch, kích thước (110x64) và một chân đế tivi bằng nhựa có giá trị sử dụng còn lại 6.000.000 đồng; một bình ga màu xám, có ga bên trong có giá trị sử dụng còn lại là 300.000 đồng và một mỏ lết dài 20cm có giá trị sử dụng còn lại là 10.000 đồng. Tổng giá trị 6.310.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 20/CTr-VKS ngày 08/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng truy tố Vũ Việt Hòa về “Tội Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Việt H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Quốc B từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về vật chứng vụ án đề nghị giải quyết theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự bị hai không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết.
Về án phí buộc bị cáo phải chịu theo quy định.
Bị cáo Vũ Việt H không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra công an huyện Phú Riềng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
Về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo Hòa thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu và phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa về thời gian, địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 20/11/2020 bị cáo đến nhà bà Phạm Thị P tại Thôn T, xã B, huyện P chơi, khi đến nơi thì gia đình bà P không có ai ở nhà, lợi dụng việc không có ai ở nhà, bị cáo đã có hành vi lấy của bà P một Ti vi Sam sung 49inch trị giá 6.000.000đ, 01 bình ga trị giá 300.000đ; 01 mỏ lết trị giá 10.000đ. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được là 6.310.000đ.
Với hành vi nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo đã phạm vào “Tội trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hoàn toàn nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, được pháp luật hình sự bảo vệ nhưng với mong muốn có tiền tiêu xài, bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ đồng thời hành vi của bị cáo còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Ngày 16/4/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 07 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em” đến ngày 22/8/2018 được tha tù trước thời hạn nhưng chưa được xóa án tích vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổ bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Ngoài ra, tại phiên tòa, bị hại xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự theo quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự cũng được áp dụng cho bị cáo.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử bị cáo một mức hình phạt tù có thời hạn, tương xứng với tính chấp mức độ hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ theo căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự 2015, điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, sửa đổ bổ sung năm 2017.
Đối với xe môtô sirius, màu xám, biển số 47N1 – 0032 mà bị cáo Hòa sử dụng chở tài sản phạm tội, qua tra cứu chủ xe mang tên Nông Thị Thùy T; Địa chỉ: Buôn Lê E, EaHLeo, ĐăkLăk. Cơ quan điều tra đang xách xác minh làm rõ để xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với một lưỡi dao; một cây kéo kim loại; một đế để ti vi; một xô nhựa; một ti vi hiệu Samsung, 49 inch; một bình gas; một chân đế ti vi bằng nhựa; 01 áo mưa và một mỏ lết. Cơ quan CSĐT, Công an huyện Phú Riềng ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà Phương nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với một quần jean; một áo thun; 01 nón bảo hiểm là của bị can mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Đây là tư trang cá nhân của bị cáo và bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền 240.000 đồng. Quá trình điều tra chứng minh được đây là tiền bán tài sản phạm tội mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với số tiền 620.000đ, tại phiên tòa ông T xin rút yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng pháp luật, hình phạt là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Vũ Việt H phạm “Tội Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Vũ Việt H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/11/2020.
[2] Về vật chứng vụ án:
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ Luật Hình sự 2015, điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy: một quần jean ngắn màu xanh; một áo thun có cổ màu xanh tím; 01 nón bảo hiểm màu xám đen.
Tịch thu sung công quỹ số tiền 240.000đ.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/02/2021 giữa Công an huyện Phú Riềng với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND tỉnh Bình Phước;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Chi cục THA huyện Phú Riềng;
- CSĐT, phòng HSCA tỉnh Bình Phước;
- Sở tư pháp tỉnh BP;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
(đã ký)
Đỗ Duy Học
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Sỹ Luận Nguyễn Duy Khải
Đỗ Duy Học
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - Chi cục THA huyện Phú Riềng; - CSĐT, phòng HSCA tỉnh Bình Phước; - Sở tư pháp tỉnh BP; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đỗ Duy Học |