- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vô ý làm chết người - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lý Tồn S phạm tội “Vô ý làm chết người”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN C HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày 16 -7- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đình Bông
2. Ông Hồ Quang Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2021; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 55/2021/QĐST-HS ngày 01/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện Krông Nô đối với:
- Bị cáo Lý Tồn S, sinh năm 2001 tại tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: Thôn R, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông; Trình độ văn hóa: 5/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Kiềm P và bà Đặng Mùi C; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú - Có mặt.
- Người bào chữa: Ông Hoàng Ngọc T – có mặt và bà Bùi Thị H – có đơn xin xét xử vắng mặt – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đắk Nông.
Cùng địa chỉ: Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Nông, số 01 đường Chu Văn A, phường Nghĩa T, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
- Bị hại:
Anh Y P (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của anh Y P: Ông Y N (Cha ruột của anh P) – có mặt.
Địa chỉ: Bon M, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông.
- Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1/ Ông Nguyễn Duy P1 – có mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
2/ Anh Y N1 – có mặt.
Địa chỉ: Thôn S , xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông.
3/ Ông Huỳnh Thanh N2 – có mặt.
Địa chỉ: Thôn N1, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông.
4/ Ông Y T1 – có mặt.
Địa chỉ: Thôn S, xã S, huyện M, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10/01/2021, Lý Tồn S mượn của anh Nguyễn Duy P1 một chiếc xe máy múc hiệu IB30 Yanmar để múc hố cà phê cho gia đình. Trong quá trình S làm thì bánh xích xe múc bị bung ra. Khoảng 08 giờ, ngày 11/01/2021, S đến nhà anh P1 hỏi mượn bơm mỡ để bơm vào bánh xích máy múc thì gặp Y P là người lái máy múc thuê cho anh P1, S hỏi bơm mỡ thì được Y P cho biết bơm mỡ đang ở dưới xe múc do Y P quản lý và nói S xuống phụ bơm mỡ cho Y P rồi lấy bơm về luôn, S đồng ý và cùng Y P xuống khu vực lò than đang để máy múc màu xanh, hiệu Cobelco SK042. Khi xuống đến nơi Y P khởi động máy múc, duỗi cần, gầu máy múc và nâng lên cao hơn mặt đất khoảng một mét, xong Y P xuống lấy máy bơm mỡ và đứng bên hông gầu múc cần bơm mỡ và bơm vào vú mỡ (những lỗ tra mỡ trơn máy múc). Khi đang bơm thì Y P nhờ S giúp gỡ van bơm do bị kẹt đồng thời nói S lên điều khiển thao tác ra vào gầu để Y P tiếp tục bơm mỡ. Tuy nhiên bơm mỡ vẫn bị kẹt, thấy vậy S để xe máy múc vẫn đang hoạt động và không kéo khóa an toàn, S xuống giúp Y P gỡ bơm ra và cùng Y P cạy đất ở cạnh chốt gàu, Y P đứng dưới cần gầu múc tiếp tục bơm mỡ vào chốt gàu và nhờ S lên điều khiển thao tác ra vào gàu, S đi lên từ phía trước đến bánh xích bên phải đi lên vị trí buồng lái, khi S lên đến vị trí buồng lái thì vô tình tay phải của S gạt trúng cần điều khiển của xe múc (cần điều khiển này nằm bên phải so với vị trí của người lái) và kéo về phía trước làm cho cần gầu múc hạ xuống đột ngột, S quay người lại thì thấy phần gầu múc đã hạ xuống sát mặt đất (cách mặt đất khoảng 30-40 cm) còn Y P thì nằm trên nền đất, dưới cần máy múc và không có phản ứng gì. S xuống đỡ Y P dậy thì máu trong mũi, miệng và hai lỗ tai của Y P chảy ra. S để Y P nằm lại và gọi người đưa Y P đi cấp cứu, tuy nhiên Y P đã chết trên đường đi đến Trung tâm y tế huyện M, tỉnh Đăk Nông.
Bản kết luận giám định pháp y về tử T1 số 25/TT ngày 28/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông, kết luận: Các dấu hiệu chính: Lỗ tai trái và hai lỗ mũi có máu không đông chảy ra khi thay đổi tư thế, nứt xương hộp sọ vùng trán, đỉnh, thái dương bên phải; Nguyên N1 tử vong: Chấn thương sọ não.
Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 19 tháng 5 năm 2021 của Viện kiểm sát N1 dân huyện K truy tố bị cáo Lý Tồn S về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKSND huyện Krông Nô giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lý Tồn S về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKSND huyện Krông Nô đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 128 BLHS; điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lý Tồn S từ 01 năm đến 02 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS; Điều 591 BLDS, chấp nhận sự thỏa thuận giữa gia đình bị cáo với gia đình bị hại số tiền bồi thường 160.000.000đ, khấu trừ số tiền 60.000.000đ gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000đ.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 BLHS; Điều 106 BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu đen.
Trợ giúp viên pháp lý phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo Lý Tồn S: Xác định bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ là đúng. Về mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là nghiêm khắc và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, hạn chế về mặt nhận thức pháp luật nên đã vượt qua nguyên tắc an toàn trong điều khiển máy múc làm anh Y P tử vong. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã tích cực cứu chữa cho bị hại; gia đình bị hại bãi nại cho bị cáo. Gia đình bị cáo là hộ cận nghèo, bị cáo là người sống phụ thuộc không có tài sản riêng gì. Đề nghị HĐXX áp dụng thêm khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo đồng thời miễn toàn bộ án phí cho bị cáo.
Bị cáo không bào chữa gì mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Vào ngày 11/01/2021, tại Thôn R, xã T, huyện K, tỉnh Đắk Nông, trong lúc giúp anh Y P bơm mỡ cho xe máy múc màu xanh, hiệu Cobelco SK042, Lý Tồn S khởi động máy múc, duỗi cần, gầu máy múc và nâng lên cao hơn mặt đất khoảng 01 mét sau đó vẫn để máy nổ và tiếp tục xuống bên dưới phụ anh Y P bơm mỡ. Trong lúc Lý Tồn S quay lên vị trí buồng lái thì tay phải vô ý gạt trúng cần điều khiển của xe máy múc và kéo về trước làm cho cần gầu múc hạ xuống đột ngột trúng vị trí anh P đang đứng dưới đất làm anh P tử vong.
Bản kết luận giám định pháp y về tử T1 số 25/TT ngày 28/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Nông nguyên nhân tử vong của anh Y P là do chấn thương sọ não.
Như vậy đã có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Lý Tồn S phạm tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS).
Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô truy tố bị cáo Lý Tồn S về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 Điều 128 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét quan điểm của trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ nên HĐXX chấp nhận.
Khoản 1 Điều 128 của BLHS quy định:
1.
Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức để biết được việc để máy múc đang khởi động trong lúc anh Y P đứng dưới đất gần gầu múc có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của anh Y P nhưng với ý thức chủ quan, cẩu thả, coi thường pháp luật, bị cáo đã vô ý chạm vào cần điều khiển máy múc khiến gầu múc đột ngột bị hạ xuống đất trúng vào người anh Y P làm anh P tử vong. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình. HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bằng biện pháp cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo đã tác động gia đình để gia đình bị cáo bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Gia đình bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo; gia đình bị cáo thuộc đối tượng cận nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo trong khi quyết định mức hình phạt, thể hiện tính khoan hồng và nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là căn cứ và phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
Về bồi thường thiệt hại: Đại diện hợp pháp của bị hại và gia đình của bị cáo thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 160.000.000đ. Xét thấy, việc thỏa thuận bồi thường giữa gia đình bị cáo và gia đình bị hại là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận. Khấu trừ số tiền gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 60.000.000đ, bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại 100.000.000đ vào ngày 28/12/2021.
Về vật chứng: Đối với 01 mũ lưỡi trai màu đen có kích thước 27x20cm, cạnh mép lưỡi trai bên phải cách góc tiếp nối với vành mũ 5,5 cm về phía trước có một vết trượt bám dính đất, dầu mỡ dài 09 cm; vị trí tiếp giáp với lưỡi trai bên phải với vành mũ có bám dính đất, dầu mỡ trong khoảng kích thước 6,5cm x 4cm, các vết tạp chất này hướng ra sau mũ 9cm, cách vành mũ 6,7 cm có vết rách hình tam giác một cạnh dài 2,1 cm, một cạnh dài 1,6 cm, cạnh còn lại dài 1,1 cm là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, thuộc đối tượng hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lý Tồn S phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Áp dụng khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lý Tồn S 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 591 Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận việc gia đình bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại thỏa thuận bồi thường thiệt hại số tiền 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng), buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại là ông Y N số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) vào ngày 28/12/2021.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 248 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 mũ lưỡi trai màu đen (có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2021 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô với Chi cục Thi hành án huyện Krông Nô).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”. */ Nơi nhận:
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Đắk Nông;
- Phòng PV27 CA. tỉnh Đắk Nông;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
- VKSND huyện Krông Nô;
- Công an huyện Krông Nô;
- Chi cục THA.DS huyện Krông Nô;
- Bị cáo;
- Đại diện hợp pháp của bị hại;
- Lưu hồ sơ.
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Thị Hải Âu
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC THÀNH VIÊN HĐXX THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM N1 DÂN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV27 CA. tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - Các bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | Nguyễn Thị Hải Âu |