- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh T "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HS-ST Ngày: 17 - 6 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tấn Rỏn.
Ông Nguyễn Thành Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức
Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia
phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Trăm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2021/TLST-HS ngày 20 tháng 5
năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2021/QĐXXST-HS ngày 03
tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Anh T, sinh ngày 21 tháng 10 năm 2000; tại: Tây Ninh; Nơi cư trú:
Ấp P, xã C, thị xã B, tỉnh N; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân
tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn
Thành N và bà Trương Thị D; có vợ là Nguyễn Cẩm Đ, sinh năm 2000 (không
đăng ký kết hôn) và 01 con chung; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam
từ ngày 17/3/2021 đến nay. (Có mặt)
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn P - Sinh năm 1973 - Địa chỉ: Ấp 6, xã
M, huyện H, tỉnh L. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 16/3/2021, Nguyễn Anh T, đang ngồi uống cà phê ở khu vực
gần cầu Đường Xuồng (thuộc ấp 4, xã M, huyện H, tỉnh L) thì có một người đàn ông lạ mặt (không rõ nhân thân, lai lịch) lại ngồi uống cà phê chung. Sau khi tiếp cận nói chuyện, người này đề nghị về việc thuê T vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cho ông ta bằng xe mô tô từ khu vực ấp 6, xã M, huyện H, tỉnh L đến khu vực cầu Đường Xuồng. Theo thỏa thuận vận chuyển thì người này sẽ đưa xe mô tô cho T để tiện vận chuyển, mỗi lần vận chuyển thành công sẽ trả tiền công cho T từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng tùy theo số lượng thuốc lá. Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên T đồng ý và trao đổi số điện thoại với người này để tiện cho việc liên lạc. Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang ở tại nhà thì nhận được điện thoại của người đàn ông nói trên. Người này gọi cho T hỏi đang ở đâu để đến giao xe cho T đi vận chuyển thuốc, T nói đang ở nhà mình tại ấp P, xã C, thị xã B, tỉnh N và có chỉ cho người này đường đi vào nhà mình. Một lúc sau, T thấy người đàn ông nói trên chạy một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, không gắn biển kiểm soát đến nhà đưa cho T rồi người này được một người lạ mặt khác chở đi đâu không rõ. Khi nhận được xe và theo sự hướng dẫn của người đàn ông thuê mình, T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ấp 6, xã M, huyện Đ, tỉnh L để nhận thuốc. Đến 01 giờ 00 phút ngày 17/3/2021, T đến địa điểm nhận thuốc rồi đậu xe chờ tại một bãi đất trống gần cổng ấp văn hóa của ấp 6, xã M. Đợi được một lúc thì T nhìn thấy một người đàn ông lạ mặt khác chạy 01 xe mô tô chở theo 04 (bốn) túi nilon màu xám chứa thuốc lá ngoại đến giao. Nhận thuốc xong, T chở số thuốc lá ngoại trên đi về hướng cầu Đường Xuồng như hướng dẫn. Đến 01 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô vận chuyển theo 2.100 (hai nghìn một trăm) bao thuốc lá ngoại hiệu Jet đi đến đoạn đường đá xanh thuộc ấp 6, xã xã M, huyện Đ, tỉnh L thì T bị Công an huyện Đức Huệ, dừng xe kiểm tra, lập biên bản bắt quả tang người cùng tang vật, phương tiện đưa về trụ sở làm rõ. Tại cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đây là lần đầu tiên T thực hiện hành vi phạm tội thì đã bị bắt quả tang, chưa
nhận được tiền công vận chuyển.
Tang vật tạm giữ:
- 2.100 (hai ngàn một trăm) bao thuốc lá ngoại nhập lậu nhãn hiệu Jet.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, không gắn
biển kiểm soát.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen, gắn sim
số 0396601785 (đã qua sử dụng).
Hiện chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý các tang vật
trên.
Cáo trạng số: 23/CT-VKS- ĐH ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm
sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Vận chuyển
hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ vẫn giữ
nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn Anh T và sau khi phân tích tính chất của
hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều
32, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T từ 06 đến 09 tháng tù.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 2.100 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet là thuốc lá điếu
nhập lậu, không có hóa đơn chứng từ, không thông qua khai báo thuế, là mặt hàng
Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển.
Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen, gắn sim
số 0396601785 (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo sử dụng liên lạc khi thực
hiện tội phạm.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, không gắn
biển kiểm soát, bị cáo sử dụng làm phương tiện vận chuyển thuốc lá và không xác
định chủ sở hữu.
Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
Đối với người đàn ông thuê bị cáo vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu và
người đàn ông chở thuốc lá điếu nhập lậu giao cho bị cáo vận chuyển, do chỉ căn
cứ vào lời khai của bị cáo, không thể xác định rõ nhân thân, lai lịch của đối tượng
trên nên không mời làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra tiếp tục làm
rõ, xử lý sau.
Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết
việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tái phạm, xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra,
quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy
tố bị các cáo đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên đều thực hiện đúng và hợp pháp. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là hợp pháp.
Vào ngày 16/3/2021 (khoảng 23 giờ 30 phút), Nguyễn Anh T nhận lời
vận chuyển thuê thuốc lá ngoại cho người khác (một người đàn ông chỉ biết tên Đỏ) nên dùng xe một xe mô tô nhản hiệu Honda loại Wawe màu đỏ đen không gắn biển kiểm soát vận chuyển 2.100 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Jet, từ khu vực ấp 6, xã xã M, huyện Đ, về khu vực cầu Đường Xuồng thuộc ấp 6, xã M không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 2.100 bao. Mục đích bị cáo vận chuyển thuê để nhận tiền công mỗi từ chuyến 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi T đang vận chuyển đến ấp 6, xã M thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đức Huệ tỉnh Long An lập lúc 02 giờ 00 phút ngày 17/3/2021 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó, đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Nguyễn Anh T phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Như vậy, cáo trạng số: 23/CT-VKS-ĐH ngày 20 tháng 5 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh
hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa là thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa, từ khu vực biên giới ấp 6, xã M, huyện Đ về ấp 4, xã M với số lượng 2.100 bao. Hành vi này của bị cáo T phải được xử lý nghiêm. Xét thấy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Ngoài hình phạt chính ra không cần áp dụng hình phạt bổ sung theo
khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự, vì hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo không có việc làm ổn định, đang nuôi con nhỏ.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Anh T trong quá trình truy tố và xét xử thật thà
khai báo, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, con còn nhỏ là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
Nguyễn Anh T là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với 2.100 bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet, do nước ngoài sản xuất không
có chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu nên tịch thu tiêu
hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen,
gắn sim số 0396601785 (đã qua sử dụng) bị cáo sử dụng liên lạc khi phạm tội nên
tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, không
gắn biển kiểm soát, bị cáo sử dụng làm phương tiện vận chuyển thuốc lá ngoại,
không xác định chủ sở hữu nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Bị cáo chưa nhận tiền công nên không đề cập thu hồi lại.
Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận
thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được
nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp
tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này
là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra
xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 299, 326, 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn từ tính ngày bắt
tạm giữ, tạm giam (ngày 17/3/2021). Tiếp tục ra Quyết định tạm giam bị cáo 45
ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo kháng cáo, kháng nghị và Thi hành án.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 2.100 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet.
- Tich thu sung vào ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại 1280, màu đen, gắn sim
số 0396601785;
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ đen, không gắn
biển kiểm soát.
Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.
Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà Nước.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn
15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 17/6/2021).
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | Nguyễn Văn Triến |