vanban.org

Bản án 27/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 22/10/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hải Y được ly hôn Anh Trịnh Văn H.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Lê Thái B, sinh ngày 08/01/2011 cho Chị Lê Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng, Anh Trịnh Văn H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Anh Trịnh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "lê thị hải y- trịnh văn h"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hải Y được ly hôn Anh Trịnh Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST
Ngày 22/10/2021
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:

Bà Đoàn Thị Kim Thương;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Minh;

Bà Phan Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thanh Hoằng- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2021, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 21/2021/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2021, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hải Y

Địa chỉ: Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Trịnh Văn H

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Trị.

Địa chỉ hiện nay: Hiện đang xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/6/2021, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Lê Thị Hải Y trình bày:

Chị Lê Thị Hải Y và Anh Trịnh Văn H đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn L, xã M, huyện L, tỉnh Quảng Trị. Đến tháng 11 năm 2010, anh H đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, từ đó đến nay không về, không quan tâm đến mẹ con chị, ít liên lạc nên Chị Y không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Hàn Quốc. Chị Y thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn anh H.

Về con chung: Quá trình chung sống, Chị Y và anh H có 01 con chung, cháu Trịnh Lê Thái B sinh ngày 08/01/2011, hiện nay cháu đang ở với Chị Y. Chị Y có nguyện vọng tiếp tục được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Anh Trịnh Văn H không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của Chị Y.

Tại Biên bản xác minh ngày 28/7/2021, anh Trịnh Văn M (em trai của Anh Trịnh Văn H) có ý kiến:

Anh H và Chị Y kết hôn năm 2009, năm 2010 anh H đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, mâu thuẫn giữa anh H và Chị Y anh Mùi không được rõ. Hiện nay, gia đình và anh Mùi không biết được địa chỉ cụ thể của anh H tại Hàn quốc, nhưng anh H và anh M vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại hoặc qua mạng xã hội Facebook, Zalo. Do bố mẹ của anh H đã mất nên anh M là em trai cam đoan sẽ nhận các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh H và sẽ thông báo lại nội dung của văn bản cho anh H được biết.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 63; Điều 239-260 và Điều 51 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được thông báo nội dung các văn bản tố tụng Tòa án nhưng không cung cấp địa chỉ cụ thể nơi mình đang làm ăn, sinh sống tại Hàn Quốc nên đây là trường hợp cố tình dấu địa chỉ và không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Áp dụng khoản 2 Điều 244, Điều 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

+ Về hôn nhân: Cho Chị Lê Thị Hải Y được ly hôn Anh Trịnh Văn H.

+ Về con chung: Giao cháu Trịnh Lê Thái B, sinh ngày 08/01/2011 cho Chị Lê Thị Hải Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu Anh Trịnh Văn H cấp dưỡng nuôi con 3 triệu đồng/tháng đến khi cháu Bình đủ 18 tuổi.

+ Tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí: Chị Lê Thị Hải Y chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng: Chị Lê Thị Hải Y yêu cầu ly hôn với Anh Trịnh Văn H khi anh H đang đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Trước và sau khi thụ lý vụ án, Chị Y và gia đình anh H không cung cấp được địa chỉ của anh H tại Hàn Quốc, nhưng phía gia đình của anh H vẫn thường xuyên liên lạc với anh H qua điện thoại hoặc qua mạng xã hội facebook, Zalo, gia đình anh H nhận các Văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết thông báo cho anh H nhưng anh H không cung cấp địa chỉ, trực tiếp tham gia tố tụng hoặc có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của Chị Y nên được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ hướng dẫn tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc “Giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ” để giải quyết vụ án theo thủ tục chung được quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt họ.

. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Chị Lê Thị Hải Y, Hội đồng xét xử thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa Chị Lê Thị Hải Y và Anh Trịnh Văn H trên cơ sở tự nguyện và được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì anh H xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay Chị Y kiên quyết ly hôn, anh H không liên lạc với Chị Y để bàn bạc, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Thấy rằng, hôn nhân là sự tự nguyện, mâu thuẫn giữa Chị Y và anh H không thể khắc phục được. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị Y được ly hôn anh H.

. Về con chung: Quá trình chung sống anh H và Chị Y có 01 con chung là cháu Trịnh Lê Thái B sinh ngày 08/01/2011, hiện đang ở với Chị Y. Xét nguyện vọng nuôi con Chị Y thấy rằng, để đảm bảo ổn định cuộc sống và phù hợp nguyện vọng của cháu Bình xin được ở với mẹ nên căn cứ Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Bình cho Chị Y trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Y không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Nguyên đơn Chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Hải Y được ly hôn Anh Trịnh Văn H.

2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Lê Thái B, sinh ngày 08/01/2011 cho Chị Lê Thị Hải Y trực tiếp nuôi dưỡng, Anh Trịnh Văn H không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trịnh Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở anh H thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 000852 ngày 15 tháng 7 năm 2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị. Chị Lê Thị Hải Y đã nộp đủ án phí.

5. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ