- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST Ngày 09/3/2021 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ NINH, TỈNH QUẢNG NAM
-Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trung Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Sỹ, ông Lê Văn Nguyên.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mận - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 133/2020/TLST-HNGĐ, ngày 05/11/2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/01/2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Minh Tr, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam, có mặt.
- Bị đơn: Anh Thái Viết V, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị Minh Tr trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh V xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào năm 2015. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do chồng chị đánh bạc, không lo làm ăn. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh V.
Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung tên là Thái Thị Thùy D, sinh ngày 16/11/2015. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi con, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa chị Tr thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai và biên bản lấy khai ngày 24/02/2021, bị đơn anh Thái Viết V trình bày:
Về hôn nhân: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Tr về quan hệ hôn nhân, con chung. Anh thừa nhận là do anh chơi đánh bạc, từ đó trong cuộc sống gia đình phát sinh rất nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc chị Tr xin ly hôn anh. Anh mong muốn đoàn tụ gia đình để nuôi con nhưng nếu chị Tr kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý.
Về nuôi con chung: Khi ly hôn, anh đồng ý giao con là Thái Thị Thùy D cho chị Tr nuôi nhưng sau này chị Tr có chồng lại thì anh sẽ thay đổi người nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng một triệu đồng, khi nào anh trả hết nợ cá nhân của anh thì anh sẽ cho con thêm.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự khi tham gia tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh Tr và anh Thái Viết V ly hôn. Về nuôi con: Giao cháu Thái Thị Thùy D, sinh ngày 16/11/2015 cho chị Tr nuôi dưỡng. Anh V cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
.Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng và đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai đối với bị đơn anh Thái Viết V nhưng anh V vẫn vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh V là đúng quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Minh Tr và anh Thái Viết V xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam vào năm 2015 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh V chơi đánh bạc, không chăm lo cuộc sống gia đình và bỏ nhà đi làm ăn nơi khác nên tình cảm vợ chồng không còn gắn bó. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải nhưng anh V vẫn không đến, điều đó chứng tỏ anh V không có thiện chí trong việc hàn gắn quan hệ hôn nhân. Xét thấy, mâu thuẫn của chị Tr và anh V là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn ly hôn của chị Tr là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về nuôi con: Chị Tr và anh V có một người con chung là Thái Thị Thùy D, sinh ngày 16/11/2015. Xét thấy, cháu D là con gái và đang ở độ tuổi mẫu giáo cần sự chăm sóc, dạy dỗ của mẹ và hiện nay cháu D đang ở với chị Tr. Anh V cũng đồng ý giao cháu D cho chị Tr nuôi dưỡng. Vì vậy, giao cháu D cho chị Tr nuôi dưỡng là hợp lý, đảm bảo quyền lợi của con. Chị Tr thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với khả năng cấp dưỡng của anh V, đảm bảo quyền lợi của các bên theo quy định tại Điều 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
. Về án phí: chị Tr phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh V phải chịu tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị Minh Tr.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Minh Tr ly hôn với anh Thái Viết V.
Về nuôi con: Giao cháu Thái Thị Thùy D, sinh ngày 16/11/2015 cho chị Nguyễn Thị Minh Tr trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thanh niên đủ 18 tuổi. Anh Thái Viết V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu D mỗi tháng 1.000.000 (Một triệu) đồng cho đến khi cháu D thành niên đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền cấp dưỡng nói trên, nếu bên phải thi hành án không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Minh Tr phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị Tr đã nộp theo biên lai số 0003934 ngày 05 tháng 11 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam. Anh Thái Viết V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (09/3/2021). Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - TAND tỉnh Quảng Nam; - UBND xã T, h.P; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Trung Thành |