vanban.org

Bản án 27/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim D ly hôn anh Sơn Ch. Về con chung: Chị Huỳnh Thị Kim D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 (hai) con chung là Sơn Anh H1, sinh ngày 30/5/2005 và Sơn Thị Ánh H2, sinh ngày 24/6/2011. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC LINH
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 3 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện.

Bà Nguyễn Thị Sương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Trường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 459/2020/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2020, về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2021/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Kim D, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số nhà 516, đường Trần Hưng Đạo, thôn 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Sơn Ch, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số nhà C, đường A, thôn 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, còn bị đơn vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Huỳnh Thị Kim D trình bày:

Chị và anh Sơn Ch tự nguyện tìm hiểu, và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận kết hôn số 055 đăng ký ngày 23/7/2005. Quá trình chung sống hạnh phúc giữa anh chị cho đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn là do tình cảm vợ chồng không được đầm ấm, thường xuyên cải nhau, xung đột bất đồng quan điểm. Đã nhiều lần anh chị cùng nhau hóa giải vợ chồng để hiểu nhau, nhường nhịn nhau để cùng nhau thay đổi cách suy nghĩ và cách sống để vợ chồng hạnh phúc nhưng không có kết quả, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng kéo dài và trầm trọng hơn, nên chị đã sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay; từ đó, chị xác định không còn tình cảm với anh Ch, giữa vợ chồng anh chị không còn yêu thương, quý trọng nhau nên chị mong muốn được ly hôn với anh Ch.

Về con chung: Anh chị có 02 (hai) con chung là Sơn Anh H, sinh ngày 30/5/2005 và Sơn Thị Ánh H, sinh ngày 24/6/2011. Nay, theo nguyện vọng của chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con H và H; chị yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi mỗi con mỗi tháng là 750.000 đồng, tính cho 02 con mỗi tháng là 1.500.000 đồng, cấp dưỡng cho đến khi 02 con đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Sơn Ch:

Sau khi thụ lý vụ án, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp nhưng bị đơn Sơn Ch không có ý kiến gì, cũng không có yêu cầu phản tố và vắng mặt không có lý do.

Tòa án đã thực hiện việc xác minh về tình trạng hôn nhân của chị Huỳnh Thị Kim D ly hôn với anh Sơn Ch, thể hiện tại biên bản xác minh ngày 12/01/2021 của bà Thổ Phương Thái là Thôn trưởng thôn 7, xã Đức Tín, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã cung cấp một số thông tin như sau:

Chị Huỳnh Thị Kim D, sinh năm 1984; anh Sơn Ch, sinh năm 1983; cùng cư trú: Thôn 7, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Anh Ch và chị D đều có hộ khẩu thường trú tại địa phương xã Đ, huyện Đ.

Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng giữa chị D và anh Ch có xãy ra mâu thuẫn hay không thì địa phương không rõ, nhưng cuộc sống vợ chồng hiện nay thì chị D và anh Ch sống riêng; về mức thu nhập của anh Ch hiện nay khoảng 6.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng, chị D bán cơm với mức thu nhập khoảng 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tháng.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án, nhưng bị đơn anh Sơn Ch không tham gia nên không tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của các đương sự và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục: Thẩm phán thụ lý vụ án và Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện các hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Các đương sự, đối với nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, còn bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giải quyết cho chị Huỳnh Thị Kim D ly hôn với anh Sơn Ch.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị Kim D và anh Sơn Ch hiện có 02 (hai) con là Sơn Anh H, sinh ngày 30/5/2005 và Sơn Thị Ánh H, sinh ngày 24/6/2011; xét thấy hiện nay 02 con H1 và H2 còn nhỏ và đang sinh sống với chị D, theo nguyện vọng của H1 và H2 nếu ba mẹ ly hôn thì xin được sống với mẹ, nên chị D yêu cầu được nuôi dưỡng hai con là phù hợp. Từ đó, nghĩ cần xem xét giao 02 con H1 và H2 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con theo chị D yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 750.000 đồng, tính cho 02 con mỗi tháng là 1.500.000 đồng là phù hợp với mức chi phí trung bình hiện nay tại địa phương, nghĩ nên buộc anh Ch phải cấp dưỡng nuôi 02 con mỗi tháng là 1.500.000 đồng, cấp dưỡng từ tháng 4/2021 cho đến khi 02 (hai) con đủ 18 tuổi là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân huyện Đức Linh đã thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp nuôi con.

Về xét xử vắng mặt: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt tại phiên tòa đối với bị đơn là phù hợp.

Nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị và anh Sơn Ch tự nguyện tìm hiểu, và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận, giấy chứng nhận kết hôn số 055 đăng ký ngày 23/7/2005. Quá trình chung sống hạnh phúc giữa anh chị cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, là do tình cảm vợ chồng không được đầm ấm, thường xuyên cải nhau, xung đột bất đồng quan điểm. Đã nhiều lần anh chị cùng nhau hóa giải để vợ chồng hiểu nhau, nhường nhịn nhau để cùng nhau thay đổi cách suy nghĩ và cách sống, để vợ chồng hạnh phúc nhưng không có kết quả, nên chị đã sống ly thân từ đầu năm 2019 cho đến nay; từ đó, chị xác định không còn tình cảm với anh Ch, giữa vợ chồng anh chị không còn yêu thương, quý trọng nhau nên chị mong muốn được ly hôn với anh Ch.

Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng của anh chị đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên nghĩ cần xử cho chị D ly hôn anh Ch là phù hợp.

Về con chung: Anh chị có 02 (hai) con chung là Sơn Anh H1, sinh ngày 30/5/2005 và Sơn Thị Ánh H2, sinh ngày 24/6/2011. Nay, theo nguyện vọng của chị yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con H1 và H2. Xét thấy hiện nay 02 con H1 và H2 còn nhỏ và đang sinh sống với chị D, theo nguyện vọng của H1 và H2 nếu ba mẹ ly hôn thì xin được sống với mẹ, nên yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con của chị D là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó, nghĩ cần xem xét giao 02 con H1 và H2 cho chị D được trực tiếp nuôi dưỡng.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Theo Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Nay, chị yêu cầu anh Ch phải cấp dưỡng nuôi mỗi con, mỗi tháng là 750.000 đồng, tính cho 02 con mỗi tháng là 1.500.000 đồng là phù hợp với mức chi phí trung bình tại địa phương, nghĩ nên buộc anh Ch phải cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung là Sơn Anh H1 và Sơn Thị Ánh H2 cho chị D là 1.500.000 đồng/tháng (mỗi con, mỗi tháng là 750.000 đồng), cấp dưỡng từ tháng 4/2021 cho đến khi 02 (hai) con đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về áp dụng án lệ: Sau khi rà soát các án lệ đã được Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao công bố thấy rằng: Nội dung tranh chấp của vụ án không có những tình tiết, sự kiện tương tự đã được nêu trong các án lệ nên không áp dụng án lệ để giải quyết tranh chấp này, mà căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.

Về án phí: Chị D là người yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Anh Ch phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Kim D ly hôn anh Sơn Ch.

2. Về con chung: Chị Huỳnh Thị Kim D được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 (hai) con chung là Sơn Anh H1, sinh ngày 30/5/2005 và Sơn Thị Ánh H2, sinh ngày 24/6/2011.

Anh Sơn Ch có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Trường hợp anh Ch lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Huỳnh Thị Kim D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh Ch.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Sơn Ch phải cấp dưỡng nuôi 02 (hai) con chung là Sơn Anh H1 và Sơn Thị Ánh H2 cho chị Huỳnh Thị Kim D là 1.500.000 đồng/tháng (mỗi con, mỗi tháng là 750.000 đồng), cấp dưỡng từ tháng 4/2021 cho đến khi 02 (hai) con đủ 18 tuổi.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, chị Huỳnh Thị Kim D có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí DSST:

- Anh Sơn Ch phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng; nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Chị Huỳnh Thị Kim D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004054 ngày 30 tháng 10 năm 2020. Chị Huỳnh Thị Kim D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án (16/3/2021); và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ