vanban.org

Bản án 27/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim H. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim H được ly hôn anh Huỳnh Văn N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 01 - 2021
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Trí

2. Ông Trần Thanh Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên

Trong ngày 19 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 737/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 571/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 566/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim H, sinh năm 2000 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp MA, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang.

Chỗ ở hiện nay: Ấp Bình Phú 1, xã Bình Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Lê Thị Kim H: Ông Nguyễn Văn P – Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Văn P thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang (có mặt)

Địa chỉ: Số 477A/24 QCT, phường BK, thành phố LX, tỉnh An Giang

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp MA, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Lê Thị Kim H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N tự tìm hiểu và tiến tới hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 10/12/2018. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống tại nhà của cha mẹ chồng tại ấp MA, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống đến cuối năm 2018 (khi chị mang thai) thì phát sinh mâu thuẫn do anh N thường xuyên rượu chè, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị H có khuyên ngăn nhưng anh N không sửa đổi tính tình. Ngoài ra, có 01 lần (không nhớ rõ thời gian) anh N hành vi bạo lực gia đình nhưng chị không có trình báo chính quyền địa phương. Vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 5/2020 cho đến nay, trong thời gian sống ly thân, khoảng tháng 06/2020, chị có về sống tại gia đình chồng thêm một lần nữa, thời gian khoảng 02 tuần nhưng anh N vẫn không thay đổi tính tình nên vợ chồng không hàn gắn được tình cảm. Sau đó, gia hai bên cũng có hàn gắn tình cảm cho vợ chồng chị nhưng anh N vẫn không sửa đổi tính tình nên vợ chồng không hàn gắn được. Nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã quá trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Thị Mỹ Tr, sinh ngày 11/10/2019, hiện nay đang sống với anh Huỳnh Văn N. Sau khi ly hôn, chị Lê Thị Kim H đồng ý để anh Huỳnh Văn N được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị H không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Huỳnh Văn N vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Lê Thị Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Anh Huỳnh Văn N vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Chị Lê Thị Kim H khởi kiện xin ly hôn anh Huỳnh Văn N có nơi cư trú tại ấp MA, xã NM, huyện CM, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Huỳnh Văn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Huỳnh Văn N.

Về nội dung vụ án:

Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim H và anh Huỳnh Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nhơn Mỹ, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang ngày 10/12/2018 theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Căn cứ lời trình bày của Lê Thị Kim H, sau khi kết hôn thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh N thường xuyên rượu chè, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, chị H đã nhiều lần cho cơ hội để anh N sửa đổi nhưng anh N vẫn không thay đổi. Trong thời gian sống ly thân, anh N không có liên lạc, thăm nom chị H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị H và anh N nhưng anh N đều vắng mặt, xem như đã tự từ bỏ quyền của mình nên Tòa án không hòa giải được, thể hiện anh N không có thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa anh chị. Do đó, có đủ căn cứ để xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị H yêu cầu ly hôn với anh N phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có cơ sở chấp nhận.

Đối với con chung: Chị Lê Thị Kim H xác định vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Thị Mỹ Tr, sinh ngày 11/10/2019, hiện nay đang sống chung với anh Huỳnh Văn N. Sau khi ly hôn, chị H đồng ý để anh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, việc giao con chung chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Cháu Huỳnh Thị Mỹ Tr hiện đang sống với anh N nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng, yêu cầu của chị H để anh N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh Huỳnh Văn N không có ý kiến đối với yêu cầu của chị Lê Thị Kim H về việc cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chị Lê Thị Kim H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Kim H.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Kim H được ly hôn anh Huỳnh Văn N.

[2] Về con chung:

Anh Huỳnh Văn N được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Thị Mỹ Tr, sinh ngày 11/10/2019, hiện đang sống chung với anh Huỳnh Văn N.

Chị Lê Thị Kim H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Huỳnh Văn N cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Lê Thị Kim H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Kim H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0009016 ngày 15/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ