- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Pham Thi dung - Pham Tuan anh"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị D: Xác định anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ 11, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của hai cháu do chị Phạm Thị D sinh ngày 02-7-2016 dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K (theo Giấy chứng sinh số 007196, ngày 02-7…
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2021/HNGĐ-ST Ngày 29-9-2021 V/v tranh chấp xác định cha cho con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN DƯƠNG KINH THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản.
Ông Nguyễn Đức Nam.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Tiến - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 81/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2021 về việc xác nhận cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 321/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 9 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D; nơi cư trú: Tổ dân phố TrNg 2, phường H, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Tuấn A; nơi cư trú: Tổ 11, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Đại D; nơi cư trú: Tổ dân phố PH1, phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Chị Phạm Thị D trình bày:
Chị và anh Vũ Đại D là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào năm 2010 theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, chị và anh Dsống hòa thuận đến năm 2014 thì mâu thuẫn. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ sống, chị và anh Dđã ly thân nhau từ năm 2014 đến nay không còn quan hệ tình cảm và kinh tế. Hiện nay, chị và anh Dvẫn chưa làm thủ tục ly hôn. Trong thời gian ly thân, chị có quan hệ tình cảm với anh Phạm Tuấn A, chị mang thai và sinh hai con: Cháu trai sinh ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K (theo Giấy chứng sinh số 007196, ngày 02-7-2016 tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng) và cháu gái sinh ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th (theo Giấy chứng sinh số 91, quyển số 16, ngày 19-10-2020 tại Bệnh viện Đa khoa Kiến An). Chị xác định cả hai con do chị sinh ra ngày 02-7-2016 và sinh ngày 19-10-2020 đều là con chung giữa chị và anh Phạm Tuấn A. Nay, chị đề nghị Tòa án xác định anh Phạm Tuấn A là cha đẻ của hai con do chị sinh ra ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K và cháu gái sinh ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th. Khi làm đơn khởi kiện, chị cung cấp kết quả phân tích ADN ngày 22-7-2021 của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro kết luận anh Phạm Tuấn A và hai cháu sinh ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn Kvà cháu gái sinh ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th có quan hệ huyết thống Cha - Con.
Tại bản tư khai, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị đơn là anh Phạm Tuấn A trình bày: Năm 2015, anh có quen biết và quan hệ tình cảm với Chị Phạm Thị D, sống chung với chị D như vợ chồng. Đến sau này anh mới biết chị D đã có chồng là Vũ Đại Dương và chưa làm thủ tục ly hôn. Anh cũng thừa nhận cả hai con do chị D sinh ra ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn Kvà cháu gái sinh ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th là con đẻ của anh theo đúng Kết quả của Công ty Cổ phần dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro kết luận.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cũng như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Vũ Đại Dnhưng anh Dkhông cung cấp lời khai, không đến Tòa án để giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của các đương sự và căn cứ quy định tại các Điều 88, 89, Điều 101, 102 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của Chị Phạm Thị D: Xác định anh Phạm Tuấn A là cha đẻ của hai cháu sinh ra ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K và cháu gái sinh ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th. Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị quyết 326 của Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí: Chị D được miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; anh Tuấn Anh phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị D khởi kiện “xác định cha cho con”, đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Phạm Tuấn A hiện đang cư trú tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Theo Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đại Dđã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng anh Dvắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa lần thứ hai và tống đạt hợp lệ cho anh Dnhưng tại phiên tòa hôm nay anh D vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo thủ tục chung.
- Về nội dung:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở xác định: Chị Phạm Thị D và anh Vũ Đại D là vợ chồng, kết hôn năm 2010, đến nay chưa ly hôn. Do chị D và anh D phát sinh mâu thuẫn nên trong khi chưa ly hôn với anh D, chị D có quan hệ tình cảm với anh Phạm Tuấn A sau đó sinh hai con vào ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K (theo Giấy chứng sinh số 007196, ngày 02-7-2016 tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng) và ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th (theo Giấy chứng sinh số 91, quyển số 16, ngày 19-10-2020 tại Bệnh viện Đa khoa Kiến An). Tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng...”. Như vậy, hai con do chị D sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị D và anh D theo quy định của pháp luật là con chung của chị D và anh Dương. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ, Kết quả xét nghiệm ADN ngày 22-7-2021 của của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro kết luận anh Phạm Tuấn A và hai cháu Phạm Tuấn K và Phạm Thị Anh Th có quan hệ huyết thống Cha - Con. Tòa án nhân dân quận Dương Kinh đã có công văn gửi của Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro về kết quả phân tích ADN. Công ty TNHH dịch vụ khoa học kỹ thuật Genpro cung cấp các tài liệu chứng cứ chứng minh Công ty có thẩm quyền hoạt động trong lĩnh vực này và xác nhận Kết quả phân tích ADN trên là đúng. Bị đơn là anh TA cũng thừa nhận hai con do chị D sinh ra ngày 02-7-2016 và ngày 19-10-2020 là con đẻ của anh. Như vậy, yêu cầu của chị D về việc xác định anh Phạm Tuấn A là cha đẻ của hai cháu sinh ngày 02-7-2016, dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K (theo Giấy chứng sinh số 007196, ngày 02-7-2016 tại Bệnh viện phụ sản Hải Phòng) và ngày 19-10-2020, dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th (theo Giấy chứng sinh số 91, quyển số 16, ngày 19-10-2020 tại Bệnh viện Đa khoa Kiến An) là phù hợp thực tế và quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, anh Phạm Tuấn A là bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 28, điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; điều 147, điều 227, điều 228, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 88, điều 89, điều 101, điều102 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Phạm Thị D: Xác định anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ 11, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng là cha đẻ của hai cháu do chị Phạm Thị D sinh ngày 02-7-2016 dự kiến đặt tên là Phạm Tuấn K (theo Giấy chứng sinh số 007196, ngày 02-7-2016 tại Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng) và sinh ngày 19-10-2020 dự kiến đặt tên là Phạm Thị Anh Th (theo Giấy chứng sinh số 91, quyển số 16, ngày 19-10-2020 tại Bệnh viện Đa khoa Kiến An).
2. Về án phí: Chị Phạm Thị D không phải chịu phí dân sự sơ thẩm. Anh Phạm Tuấn A phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị D, anh Phạm Tuấn A có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Đại D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận Dương Kinh; - VKSND TP Hải Phòng; - Tòa án nhân dân TP Hải Phòng; - Chi cục THADS quận Dương Kinh; - Đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |