vanban.org

Bản án 27/2021/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.

Buộc bà Phạm Thị P trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng. Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà P chậm trả tiền thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "HỒNG PHƯỢNG"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2021/DS-ST
Ngày: 02/03/2021
V/v tranh chấp: “Hụi”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Nhu

2. Ông Quách Trung Sơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Liên Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 298/2020/TLST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc tranh chấp “Hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2020/QĐXXST-DS ngày 07/12/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

2. Bị đơn: Bà Phạm Thị P, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

(Bà H có mặt; Bà P vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bà là tay em có tham gia chơi hụi do bà Phạm Thị P làm đầu thảo. Dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/7/2018 âm lịch: Hụi 01 tháng khui một lần, có 25 phần,. Bà tham gia 01 phần, đã đóng hụi sống được 14 kỳ và vẫn chưa hốt. Đến kỳ hụi thứ 15 thì bà P tự ý ngưng hụi và tuyên bố đình hụi vào ngày 28/9/2019. Nay bà yêu cầu bà P trả cho bà số tiền vốn hụi đã đóng 14 kỳ số tiền là 21.000.000 đồng.

- Bị đơn bà Phạm Thị P không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc bà H khởi kiện.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu như trên. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

- Đại diện Viện kiểm sát tham dự phiên tòa phát biểu:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quy định pháp luật.

+ Về nội dung vụ án: Nguyên đơn có tham gia góp hụi do bị đơn làm đầu thảo dây hụi 2.000.000 đồng đã góp được 14 kỳ hụi số tiền vốn là 21.000.000 đồng. Nguyên đơn cung cấp chứng cứ là danh sách hụi ghi tên “H” ở số thứ tự 22 là phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xem như thừa nhận số tiền nợ hụi trên. Đồng thời phân tích nhiều lý lẽ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bà Phạm Thị P trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 21.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà H kiện bà P tranh chấp về chơi hụi, đây là giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ tranh ch p: Bà H kiện bà P yêu cầu trả số tiền nợ hụi, nên xác định đây là tranh chấp hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.

- Về việc vắng mặt của đương sự: Bà Phạm Thị P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ để dự phiên tòa xét xử việc bà H khởi kiện đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà P.

. Về nội dung vụ án:

Bà Nguyễn Thị Thu H là tay em có tham gia chơi hụi do bà Phạm Thị P làm đầu thảo. Dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/7/2018 âm lịch: Hụi 01 tháng khui một lần, có 25 phần. Bà tham gia 01 phần, đã đóng hụi sống được 14 kỳ số tiền là 21.000.000 đồng và vẫn chưa hốt. Đến kỳ hụi thứ 15 thì bà P tự ý ngưng và tuyên bố đình hụi vào ngày 28/9/2019.

Xét thấy, qua việc xác minh các tay em tham gia chơi hụi chung đều xác nhận bà P là đầu thảo có tổ chức nhiều dây hụi và bà H có tham gia chơi chung dây hụi khui ngày 15/7/2018 âm lịch do bà P làm đầu thảo. Do vậy, có căn cứ xác định giao dịch chơi hụi giữa bà H và bà P thực tế đã phát sinh theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.

Xét thấy, bà P là đầu thảo hụi có hưởng hoa H từ việc làm đầu thảo. Việc bà P tự ý ngưng hụi và không trả tiền hụi cho các tay em chưa hốt hụi là có lỗi vi phạm nghĩa vụ trả tiền.

Bà P đã được Tòa án thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần để giải quyết và xét xử việc bà H khởi kiện nhưng bà P vẫn vắng mặt không lý do. Đồng thời, không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc bà H kiện, xem như bà P đã từ bỏ quyền bảo vệ quyền lợi cho mình.

Xét chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ phù hợp quy định tại các Điều 280 và Điều 471 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Buộc bà Phạm Thị P trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 21.000.000 đồng.

. Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H, nên bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 471, Điều 280 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thu H.

- Buộc bà Phạm Thị P trả cho bà Nguyễn Thị Thu H số tiền 21.000.000 (Hai mươi mốt triệu) đồng.

- Kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà P chậm trả tiền thì hàng tháng còn phải trả thêm tiền lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà P chịu 1.050.000 đồng.

- Hoàn lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 700.000 đồng theo biên lai thu số 0004027 ngày 01/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

3. Về quyền kháng cáo:

- Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Bà P được tính từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ