vanban.org

Bản án 27/2020/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 09/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao Nguyễn Viết T về cho Ủy ban nhân dân phường Long Bình, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết T - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao Nguyễn Viết T về cho Ủy ban nhân dân phường Long Bình, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HS-ST
Ngày: 09-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Hoàng Mạnh Cường

- Ông Mai Thanh Giàu

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 9

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thế Tùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và ngày 09 tháng 3 năm 2020 tại trụ sở Tòa ánn nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020 đối với:

Nguyễn Viết T (Tên khác: A); Sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Đường B, phường L, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (Sinh 1952) và bà Huỳnh Thị C (Sinh 1959); Tiền án, tiền sự: Không; Đã áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/01/2019.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Ông Lê Trung D, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Đường Đ, phường Đ, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

2/ Ông Phạm Văn E, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Đường N, phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt)

3/ Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Xã G, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện Kế hoạch số 442 ngày 16/7/2019 của Đội Cảnh sát giao thông Công an Quận 9, phân công đồng chí Lê Trung D làm tổ trưởng cùng đồng chí Phạm Văn E đi tuần tra, kiểm soát đảm bảo trật tự an toàn giao thông tại khu vực đường X, phường L, Quận 9. Khoảng 14 giờ 15 phút ngày 11/8/2019, trong lúc đồng chí D và E đang tuần tra, khi đến gần nhà số 1039 đường X, , phường L, Quận 9 thì phát hiện xe ô tô có tải trọng trên 10 tấn biển số 51C-291.07 do tài xế Nguyễn Đăng H điều khiển lưu thông vào đường cấm (Đường X cấm các loại xe tải trọng trên 5 tấn lưu thông trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 22 giờ) nên tổ tuần tra ra hiệu lệnh dừng xe để tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về giao thông. Trong lúc đồng chí T đang lập biên bản, thì H gọi điện báo cho Nguyễn Viết T biết. Trong lúc đang ngồi nhậu với bạn nhận được điện thoại của H, T đã điều khiển xe máy đến địa điểm mà Tổ tuần tra đang làm việc, T tiến lại gần đồng chí D xin bỏ qua lỗi vi phạm nhưng không được đồng ý. Đồng chí D tiếp tục yêu cầu H xuất trình giấy phép lái xe, chứng minh nhân dân. T biết H không mang theo giấy phép lái xe và bực tức vì xin bỏ qua lỗi vi phạm không được, lại vừa uống rượu nên T đã đến gần đồng chí D nắm tay giằng co, cào vào cổ tay rồi dùng tay phải bóp cổ họng đồng chí D, sau đó dùng tay trái đưa nắm đấm lên dọa đánh, thì đồng chí E đến ngăn cản kịp thời. Chưa dừng lại ở đó, T tiếp tục nhặt cục bê tông ven đường hình tròn, đường kính 05cm ném đồng chí D với khoảng cách chừng 03m nhưng không trúng, T tiếp tục tìm gạch đá ven đường định ném tiếp thì được mọi người can ngăn nên dừng lại. Do Nguyễn Viết T có hành vi dùng vũ lực đối với đồng chí Lê Trung D là người đang thi hành công vụ, dẫn đến việc không thực hiện được lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đối với lái xe Nguyễn Đăng H, nên Tổ tuần tra đã báo Công an phường Long Bình đến lập biên bản và mời Nguyễn Viết T về trụ sở làm việc (BL: 83-95).

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 747/TgT.19 ngày 28/8/2019 của Trung tâm pháp y- Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh đối với thương tích của đồng chí Lê Trung D, kết luận (BL: 80-82):

- Chấn thương phần mềm gây bầm vùng cổ đã được điều trị, hiện không còn dấu vết thương tích, tình trạng ổn định.

- Đa vết thương phần mềm, hiện còn:

+ Một vết xước da mặt trước cổ tay phải kích thước 1,9 x 0,15cm

+ Một vết xước da mặt trước, trong cổ tay trái kích thước 1,3 x (0,05-0,1cm).

- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02%.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Nguyễn Viết T đã khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội như đã nêu trên (BL: 102-107).

Việc Nguyễn Viết T có hành vi dùng vũ lực gây thương tích 02% cho đồng chí Lê Trung D, do tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, bị hại không yêu cầu khởi tố nên không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

Đối với Nguyễn Đăng H gọi Nguyễn Viết T đến mục đích là lấy giấy tờ xe giao Công an làm việc. Lúc T dùng vũ lực đối với đồng chí D, H đứng phía sau thùng xe tải, không tham gia, bàn bạc hay giúp sức cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9 không xử lý hình sự là có cơ sở.

Vật chứng vụ án thu giữ, theo Lệnh nhập kho vật chứng số 119/19 ngày 16/12/2019, gồm: Cục bê tông xi măng hình tròn, đường kín 05cm (BL: 65).

Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Lê Trung D sức khỏe ổn định, vết thương đã lành nên không yêu cầu bồi thường (BL: 96-97).

Cáo trạng số 17/CT-VKS Q.9 ngày 09/01/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Viết T về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

- Bị cáo Nguyễn Viết T thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung cáo trạng đã nêu và xin được hưởng án treo.

- Các ông Lê Trung D, Phạm Văn E thừa nhận sự việc như cáo trạng đã nêu là đúng và xin bãi nại, giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 9, của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Viết T tại phiên tòa phù hợp với nội dung: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 11/8/2019 của Công an phường Long Bình, Quận 9; Biên bản truy tìm vật chứng ngày 15/8/2019; Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 13/12/2019; Sơ đồ hiện trường vụ án ngày 13/12/2019; Bản ảnh hiện trường; Kết luận Giám định pháp y về thương tích số 747/TgT.19 ngày 28/8/2019 của Trung tâm pháp y Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh; Lời khai của các ông Lê Trung D, Phạm Văn E cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 14 giờ 15 phút ngày 11/8/2019, tại gần nhà số 1039 đường X, phường L, Quận 9. Trong lúc các cảnh sát giao thông Công an Quận 9 là Lê Trung D và Phạm Văn E đang tiến hành lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính lái xe Nguyễn Đăng H điều khiển xe ô tô có tải trọng trên 10 tấn biển số 51C-291.07 lưu thông vào đường Nguyễn Xiển cấm các loại xe tải trọng trên 5 tấn lưu thông trong khoảng thời gian từ 06 giờ đến 22 giờ thì Nguyễn Viết T đến cản trở, dùng tay giằng co, cào vào cổ tay, bóp cổ họng cảnh sát giao thông Lê Trung D, sau đó dùng cục bê tông hình tròn, đường kín 05cm ném vào đồng chí Lê Trung D nhưng không trúng, dẫn đến việc các cảnh sát giao thông Lê Trung D và Phạm Văn E không lập được biên bản xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Đăng H. Là Nguyễn Viết T đã phạm Tội “Chống người thi hành công vụ” trong trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Viết T biết rõ các cảnh sát giao thông Lê Trung D và Phạm Văn E mặc cảnh phục đúng quy định và đang thi hành công vụ nhưng do có tính xem thường pháp luật đã đến cản trở, dùng vũ lực làm cho các cảnh sát giao thông Lê Trung D và Phạm Văn E không thể hoàn thành nhiệm vụ do nhà nước giao. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình chấp hành pháp luật ở địa phương. Tuy nhiên, cũng xét bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và có tính bộc phát, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận, các cảnh sát giao thông Lê Trung D và Phạm Văn E đã bãi nại và xin xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Khi quyết định hình phạt, căn cứ Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, cần áp dụng Khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định khung hình phạt phải áp dụng; các điểm i và s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian chấp hành bản án là đã có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa cho xã hội.

Xét đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 9 là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử. Nghĩ nên chấp thuận một phần trong đề nghị của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 9 là có căn cứ.

Nguyễn Viết T tuy có gây thương tích 02% cho đồng chí Lê Trung D, nhưng do tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% và bị hại không yêu cầu khởi tố hình sự nên không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.

Đối với Nguyễn Đăng H gọi Nguyễn Viết T đến mục đích là lấy giấy tờ xe giao cho Công an làm việc. Lúc T dùng xô sát với D, H đứng phía sau thùng xe tải, không tham gia, bàn bạc hay giúp sức cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9 không xử lý hình sự là có cơ sở, Tòa án không xem xét thêm.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Trung D sức khỏe ổn định, vết thương đã lành, không yêu cầu bồi thường nên Tòa án không phải giải quyết thêm về phần bồi thường dân sự.

Vật chứng vụ án: Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 119/19 ngày 25/12/2019 của Công an Quận 9 và Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS ngày 09/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, gồm: Cục bê tông xi măng hình tròn, đường kín 05cm là tang vật của vụ án và không còn giá trị sử dụng. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ, sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết T phạm Tội Chống người thi hành công vụ.

2. Áp dụng Khoản 1 Điều 330; các điểm i-s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Nguyễn Viết T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao Nguyễn Viết T về cho Ủy ban nhân dân phường Long Bình, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 Luật Thi hành án hình sự năm 2010.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy: Cục bê tông xi măng hình tròn, đường kín 05cm.

(Tài sản tịch thu tiêu hủy ghi trong Phiếu nhập kho vật chứng số 119/19 ngày 25/12/2019 của Công an Quận 9 và Quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS ngày 09/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9).

4. Áp dụng Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Đã giải thích án treo.

Cỡ chữ