- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HS-ST Ngày: 24-02-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn Tây;
2. Bà Nguyễn Thị Ng Anh.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; giới tính: Nam; nơi thường trú: Xóm 1, xã S, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1943 (chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1947; chưa vợ, con; tiền sự: Không.
- Tiền án:
+ Bản án số 214/2009/HSST ngày 25/8/2009 của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 29/4/2010.
+ Bản án số 456/2011/HS-ST ngày 12/8/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 06/5/2012.
+ Bản án số 335/2015/HS-ST ngày 29/6/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt vào ngày 07/9/2017.
- Nhân thân: Quyết định số 3144/QĐ - UBND ngày 12/11/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở Giáo dục Phú Hòa thời hạn 24 tháng về hành vi Đánh bạc và Trộm cắp tài sản, chấp hành xong vào ngày 17/9/2014.
Tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2019 cho đến nay; có mặt.
3. Bị hại: Anh Hà Minh Ng, sinh năm 1996; địa chỉ thường trú: Bản Khảo 2, xã h, huyện Y, tỉnh Sơn La; tạm trú: Nhà trọ Trần Công V1, Tổ 1, Khu phố 1, phường Ngh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.
4. Người làm chứng:
4.1 Ông Trần Công V1, sinh năm 1962; vắng mặt.
4.2 Ông Ngô Vĩ Ch, sinh năm 1974; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L và đối tượng tên V (không rõ nhân thân lai lịch) là bạn với nhau. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 24/7/2019, V gọi điện thoại và bảo L là đi tìm xe mô tô không người trông coi để chiếm đoạt, L đồng ý. V nói L đi đến khu vực công viên Dĩ An thuộc phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương để đợi V. Khoảng 10 phút sau, V điều khiển xe mô tô hiệu Vario (không rõ biển số) đến công viên Dĩ An thì gặp L. Sau đó, V điều khiển xe chở L đi đến địa bàn thị xã Tân Uyên, trên đường đi V đưa cho L 01 cây đoản, 01 khóa từ để bẻ ổ khóa xe mô tô. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, V và L đi đến ấp 1 (nay là Khu phố 1), xã (nay là phường) Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. V và L thấy cổng khu trọ không khóa, phía trước phòng trọ số 03 có để 01 xe mô tô. V dừng xe, L xuống xe đi đến cầm chiếc nón bảo hiểm đang treo trên xe mô tô biển số 26D1-190.60 và để sang chiếc xe đạp điện dựng bên cạnh rồi dắt xe mô tô biển số 26D1-190.60 thì ông Trần Công V1 quan sát qua camera nhìn thấy nên tri hô rồi cùng với ông Hà Minh Ng và ông Ngô Vĩ Chiếu bắt giữ L giao cho Công an xã Hội Nghĩa xử lý, còn V thì điều khiển xe mô tô hiệu Vario chạy thoát.
Công an xã (nay là phường) Hội Nghĩa tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương thụ lý theo thẩm quyền.
Tại Kết luận định giá tài sản số 223/KLTS-TTHS ngày 30/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Tân Uyên kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 26D1-190.60 trị giá tại thời điểm chiếm đoạt là 36.500.000 đồng.
Cáo trạng số 23/CT-VKS.TU ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L đã chấp hành xong Quyết định số 3144/QĐ-UBND ngày 12/11/2012 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục từ ngày 17/9/2014. Do đó, bị cáo L không bị xác định có tiền sự mà chỉ xác định về nhân thân nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ các điều 46 và 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
+ Tịch thu, tiêu hủy vật chứng gồm: 01 đoạn kim loại màu trắng dài khoảng 09cm và 01 khoá từ bằng kim loại màu vàng dài 06cm.
+ Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng tên V. Do đó, tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, bị hại anh Hà Minh Ng trình bày: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/7/2019 anh Ng đang ngồi trong phòng trọ thì ông Trần Công V1 quan sát qua camera nhìn thấy bị cáo L đang dắt chiếc xe 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 26D1-190.60 của anh đang dựng trước phòng trọ số 3 nên ông Vương tri hô. Sau đó anh Ng cùng với ông V1và anh Ngô Vĩ Ch1 bắt giữ bị cáo L giao cho Công an xã (nay là phường) Hội Nghĩa. Anh Ng đã nhận lại xe mô tô nên không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm. Về mức hình phạt thì đề nghị Toà án xét xử theo quy định của pháp luật.
Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt so với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo là đúng thẩm quyền.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt: Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, thống nhất với nhau về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 24/7/2019, tại nhà trọ Trần Công V1 thuộc Khu phố 1, phường Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Văn L đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển số 26D1 - 190.60 trị giá 36.500.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của anh Hà Minh Ng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì động cơ tư lợi và thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Ngoài ra, bị cáo đã tái phạm nay lại phạm tội mới là tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt: Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46 và 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thấy:
Đối với các vật chứng gồm: 01 đoạn kim loại màu trắng dài khoảng 09cm; 01 khoá từ bằng kim loại màu vàng dài 06cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với vật chứng là 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về việc xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn: Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo cho đến khi có quyết định thi hành án để đảm bảo cho việc thi hành án.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các khoản 2 Điều 106, 135, 136, 268, 269, 298, 299, 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Các điều 38, 46, 47, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (Ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/7/2019.
Tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam cho đến khi có quyết định thi hành án đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) đoạn kim loại màu trắng dài khoảng 09cm và 01 (Một) khoá từ bằng kim loại màu vàng dài 06cm.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/02/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thị xã Tân Uyên và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên).
4. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Công an thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Văn Hưng |