vanban.org

Bản án 27/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình

Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 về án phí lệ phí toà án. Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt i ản” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu T lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
  • Tòa quyết gì? Điểm a, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình
  • Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SẦM SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HS-ST
Ngày 15/6/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thơm, ông Chu Ngọc Trọng.

- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thư ký Toà án nhân

dân thành phố Sầm Sơn.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân TP Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 6 năm 2020. Tại hội trường xét xử Toà án nhân dân TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2020/TLHSST ngày 14 tháng 5 năm 2020, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22 ngày 29/5/2020 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Thị Thu T – Sinh năm 1987.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Phường Y , thị xã Đ , tỉnh Q

Nơi ở hiện nay: Tổ 5 thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

Giới tính: Nữ; Quốc tịch việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Bố Nguyễn Văn G (đã chết)

Mẹ Mai Thị H – Sinh năm 1954

Gia đình có 05 canh em, bị cáo là con thứ năm.

Chồng: Nguyễn Văn C ; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại trại giam công an tỉnh Thanh Hóa.

Người bị hại: 1, Chị Cao Thị P – SN 1994

Đ/c: KP Tung Thịnh, phường Quảng Tiến, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

2, Chị Phạm Hồng N – SN 2000

đ/c: Khu 14, xã Điêu Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

3, Chị Nguyễn Thị N – SN 1993

Đ/c: Khu 5, phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

4, Anh Ngô Đức V – SN 1996

Đ/c: Thôn Tân hải, xã cam hải tây, huyện cam lâm, tỉnh Khánh Hòa.

5, Chị Nguyễn Thị T – SN 1999

Đ/c: Thôn 5 xã kiến Quốc, huyện Kiến Thụy, thành phố hải Phòng.

6, Nguyễn Thanh L – SN 1981

Đ/c: Thôn Phú Long, xã Long Hải, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận.

7, Chị Trần Thị Ngọc C – SN 1991

Đ/c: Ấp 2 xã Bình Thắng, huyện bình Đại, tỉnh Bến tre.

8, Công ty TNHH xuất nhập khẩu S

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Tô Thùy L – SN 1995

Đ/c: Xóm 3, phường Định Công, quận hoàng mai, TP Hà Nội.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1, Chị Nguyễn Thị N – SN 1987

Đ/c: Tổ 1, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

2, Anh Nguyễn Văn Q – SN 1991

Đ/c: Thôn 8, xã tiền Phong, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

3, Chị Triệu Thị T – SN 1984

Đ/c: Tổ 5, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

4, Anh Trần Trung N n – SN 1996

Đ/c: Tổ 5, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

5, Anh Nguyễn Văn C – SN 1989

Đ/c: Tổ 5, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

6, Chị Hoàng Thị V – SN 1978

Đ/c: Khu 7, phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

7, Chị Mai Thị Thương L – SN 1993

Đ/c: Tổ 6, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, TP Hà Nội.

Tại phiên tòa, có mặt bị cáo, vắng mặt người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do kinh doanh hải sản bị thua lỗ, để có tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, Nguyễn Thị Thu T đã nảy sinh ý định đăng nhập mạng xã hội facebook đăng tin, trao đổi thông tin mua bán hải sản nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Từ tháng 10/2019 đến ngày 02/12/2019, Nguyễn Thị Thu T đã chiếm đoạt tài sản của nhiều người. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất, ngày 24/11/2019, Nguyễn Thị Thu T sử dụng số điện thoại 0967.173.002 đăng nhập vào tài khoản facebook “Trang Phạm” của mình, tham gia vào nhóm facebook “Hải sản Vân Đồn”. Thương xem trên bảng tin thấy facebook “Phương Hà” của chị Cao Thị P ở khu phố Trung Thịnh, Phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn có nội dung: “cần cá hố số lượng nhiều, ai có thì liên hệ số điện thoại 0961.879.866”. Thương vào phần bình luận của chị P nhắn tin. Chị P thấy facebook “Trang Phạm” bình luận nên đã nhắn tin qua Messenger cho Thương hỏi: “Chị có cá hố à, gửi hình ảnh và báo giá cho em xem?”, Thương hỏi lại: “chị lấy hàng từ mấy lạng trở lên?”, chị P hỏi lại: “em có hàng như thế nào?”, Thương trả lời: “hàng từ 300 g đến 500 g/con, giá 115.000 đồng/kg chưa bao cước”. Chị P hỏi lại: “cước đến Móng Cái, Quảng Ninh là bao nhiêu”, Thương báo giá: “nếu tính cả cước đến Móng Cái thì giá là 120.000 đồng/kg”. Để tạo niềm tin cho chị P, T đã tải các hình ảnh cá hố từ trang facebook “Hải sản Nha Trang” gửi cho cho chị P . Sau khi xem hình ảnh, chị P đã tin tưởng, đồng ý mua với giá 120.000 đồng/kg. T yêu cầu chị P phải đặt cọc 10.000.000 đồng gửi vào số tài khoản 19034978805011 Ngân hàng Techcombank (chủ tài khoản là Nguyễn Thị N có cửa hàng mua bán điện thoại, sim và làm dịch vụ chuyển tiền tư nhân ở tổ 1, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội), chị P đồng ý. Đến 10 giờ 28 phút cùng ngày, chị P sử dụng số tài khoản 107006778889, Ngân hàng Viettinbank chuyển 10.000.000 đồng vào tài khoản mà T đã cung cấp.

Đến trưa cùng ngày, T nhắn tin báo có 1,4 tấn cá Hố và hỏi chị P có mua không. Chị P yêu cầu cho biết giá tiền, T lấy quyển vở tính số lượng 1,4 tấn cá hố trị giá là 168.000.000 đồng và chụp hình ảnh gửi cho chị P , yêu cầu chị P đặt cọc trước 50% số tiền. T lên mạng Internet tải hình ảnh xe hàng đông lạnh về chỉnh sửa ảnh ghi tên, số điện thoại của P trên các thùng hàng và gửi số điện thoại 0357.843.171 cho chị P nói đây là số điện thoại của nhà xe để lấy hàng. Chị P gọi đến số điện thoại này thì T nghe máy xác nhận đây là xe chở hàng cho chị P nên chị P đã tin tưởng đồng ý. Đến 13 giờ 58 phút cùng ngày, chị P đã nhờ bạn là chị Hoàng Thị Vinh ở khu 7, Phường Hải Yên, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, chuyển 40.000.000 đồng vào số tài khoản Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Ngọc nhưng chị Vinh đã chuyển nhầm 50.000.000 đồng vào số tài khoản này. Chị P dùng số điện thoại của mình là 0961.879.866 gọi vào số điện thoại 0967.173.022 của T yêu cầu chuyển trả lại cho chị P 10.000.000 đồng thì Thương đồng ý.

Đến 15 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát 21C - 947.09 đến cửa hàng điện thoại của chị Nguyễn Thị N để rút tiền. Khi gặp chị N , Thương nói: “chị ơi cho em lấy tiền hàng chuyển vào tài khoản Techcombank của chị hai lần với tổng số tiền là 60.000.000 đồng” Sau khi kiểm tra lại tài khoản, chị Ngọc đã lấy 60.000.000 đồng đưa cho Thương Sau đó, T đã tắt tất cả các số điện thoại, không sử dụng nick facebook “Trang Phạm” nữa và thuê anh Trần Trung Nguyên ở tổ 5, thị trấn Quang Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội với giá 300.000 đồng để khóa tài khoản facebook của chị P và xóa tài khoản facebook “Trang Phạm” của mình để tránh bị phát hiện; còn chị P g nhiều lần gọi vào các số điện thoại của T nhưng không liên lạc được. Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn đã tiến hành điều tra xác minh. Đến ngày 04/12/2019, T biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật đã bị phát hiện và không thể trốn tránh được trách nhiệm nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn khai báo về hành vi của mình.

Vụ thứ hai, vào khoảng tháng 10/2019, Thương mua số điện thoại 0367.520.933 đăng nhập vào facebook thì hiện lên tài khoản facebook “Trang Trang” mà chị Phạm Thị Huyền Trang ở khu xóm Chùa, xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ sử dụng và đăng ký tài khoản facebook “Trang Trang” trước đây nhưng không có mật khẩu đăng nhập. T kích hoạt vào nội dung “Quên mật khẩu” thì trung tâm facebook gửi tin nhắn mật khẩu vào sim số điện thoại của Thương (trước đây chị Trang hay sử dụng tài khoản facebook “Trang Trang” để nói chuyện qua Messenger facebook với chị Phạm Hồng Nhung ở khu 14, xã Điêu Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ). Đến ngày 12/11/2019, Thương sử dụng facebook “Trang Trang” nhắn tin cho chị Phạm Hồng Nhung hỏi mua 40 kg đùi gà tây lọc sẵn, 100 kg tỏi gà và 03 hộp khoai môn lệ phố với tổng số tiền là 9.440.000 đồng. Chị Nhung nhầm tưởng là tài khoản facebook của bạn mình là chị Trang nên đã chuyển số hàng này xuống huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội như thỏa thuận. Thương sử dụng số điện thoại 0357.843.171 để liên lạc, chị Nhung đã tin tưởng, chuyển số tài khoản 105867792263, Ngân hàng Viettinbank của anh rể là Nguyễn Văn Trường để Thương chuyển tiền hàng. Thương đã tải hình ảnh giao dịch chuyển tiền Banking của Ngân hàng Viettinbank về sau đó chỉnh sửa rồi gửi cho chị Nhung tin tưởng là đã chuyển tiền cho Nhung. Chị Nhung kiểm tra tài khoản nhưng không thấy tiền về nên đã hỏi thì Thương nói là khác ngân hàng nên tiền về chậm, đến sáng hôm sau mới có. Sau khi nhận được tài sản, Thương nói là không kiểm tra tiền trên điện thoại được mà phải ra cây ATM mà rút, chị Nhung liên lạc thì Thương đã tắt điện thoại, cắt liên lạc với chị Nhung. Lúc này, chị Trang báo cho chị Nhung biết là tài khoản facebook “Trang Trang” của chị Trang không sử dụng nữa .

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐG ngày 25/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Sầm Sơn kết luận: 40 kg đùi gà tây lọc sẵn trị giá 3.400.000 đồng; 108 kg tỏi gà trị giá 5.940.000 đồng và 03 hộp khoai môn lệ phố trị giá 100.000 đồng. Tổng là 9.440.000 đồng .

Vụ thứ ba, ngày 21/11/2019, Thương sử dụng tài khoản facebook “Trang Phạm” đăng nhập vào facebook thì thấy trên dòng thời gian có bài viết cần mua cá Man hồng của chị Nguyễn Thị Năm ở khu 5, Phường Hải Hòa, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Thương lên các trang mạng tải hình ảnh cá Man hồng về gửi cho chị Năm, hai bên thỏa thuận cá Man hồng loại 5 đến 6 con/kg giá 65.000 đồng/kg. Chị Năm đồng ý mua 248 kg, được đóng thành 04 thùng xốp, Thương yêu cầu chị Năm chuyển khoản trước 50 %. Sau khi hai bên thống nhất, Thương gửi số tài khoản 19034978805011, Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản là chị Nguyễn Thị Ngọc cho chị Năm. Chị Năm nhờ bạn là chị Phạm Thị Lương, chủ số tài khoản 19031946096699, Ngân hàng Techcombank chuyển số tiền 6.670.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, Thương nói chuyển cá ra xe khách và chị Năm sẽ nhận được hàng vào lúc 01 giờ sáng ngày hôm sau.

Đến 19 giờ cùng ngày, chị Năm gọi qua Messenger cho Thương để hỏi hàng đã chuyển chưa thì Thương nói là chuyển rồi và hỏi chị Năm: “có nguồn cá mới có mua nữa không, nếu mua thì sẽ chuyển hàng ra chuyến sau”, chị Năm đồng ý. Chị Năm nhờ anh Hoàng Văn Nam là chủ tài khoản 0551000310421 chuyển 7.400.000 đồng vào số tài khoản 0611000184307, Ngân hàng Vietcombank, chủ tài khoản là Nguyễn Văn Quân (do trước đó Thương mượn số tài khoản này của anh Quân để chuyển tiền hàng). Tổng số tiền chị Năm chuyển cho Thương là 14.070.000 đồng. Sau đó, Thương đã đến cửa hàng gặp, nói với chị Ngọc: “lấy tiền hàng bạn nhờ gửi vào tài khoản Techcombank của chị là 6.670.000 đồng”, chị Ngọc kiểm tra và đưa cho Phương 6.670.000 đồng. Thương nhờ em họ là Mai Thị Hương Lê đến gặp anh Quân mượn thẻ ATM đi rút số tiền 7.400.000 đồng. Thương trả nợ 3.000.000 đồng cho chị Lê, số tiền còn lại Thương dùng tiêu xài cá nhân, trả nợ hết. Đến 01 giờ ngày 22/11/2019, chị Năm không nhận được hàng và không liên lạc được với Thương nữa.

Vụ thứ tư, 08 giờ 00 phút ngày 26/11/2019, Thương sử dụng tài khoản facebook “Trang Phạm” đăng nhập vào facebook thì thấy trên dòng thời gian có bài viết cần mua cá Bạc má của anh Ngô Đức Vương ở thôn Tân Hải, xã Cam Hải Tây, huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa. Thương liên lạc qua Messenger với tài khoản facebook “Ngô Đức Vương” của anh Vương. Qua nói chuyện trao đổi với nhau, anh Vương đặt mua 185 kg cá Bạc má với giá 50.000 đồng/1kg, Thương yêu cầu anh Vương chuyển 3.000.000 đồng tiền đặt cọc vào số tài khoản 19034978805011, Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản Nguyễn Thị Ngọc. Anh Vương sử dụng dịch vụ Internet Banking của Ngân hàng Sacombank, tài khoản số: 050104811083, chuyển số tiền 3.000.000 đồng đến tài khoản trên.

Đến 09 giờ 04 phút cùng ngày, Thương tiếp tục sử dụng facebook “Trang Phạm” nhắn tin cho anh Vương nói là đã đóng hàng xong, tổng là 216 kg trong 05 thùng xốp. Thương tải hình ảnh cá được đóng trong thùng xốp về gửi cùng số điện thoại 0987.494.973 cho anh Vương và nói đây là số điện thoại nhà xe để anh Vương liên lạc nhận hàng. Anh Vương gọi điện thì Thương nghe điện thoại và xác nhận số thùng hàng đã có trên xe nên anh Vương tin tưởng là thật. Thương yêu cầu anh Vương chuyển hết số tiền hàng. Đến 10 giờ 25 phút cùng ngày, anh Vương chuyển hết số tiền còn lại là 7.800.000 đồng vào tài khoản trên và Thương hẹn anh Vương đến 16 giờ 00 phút ngày 27/11/2019, xe sẽ chở hàng về đến Bến xe Miền Đông cho anh Vương. Sau đó, Thương đã đến cửa hàng gặp, nói với chị Ngọc: “lấy tiền hàng gửi vào tài khoản Techcombank của chị là 10.800.000 đồng”, chị Ngọc kiểm tra và đưa cho Thương 10.800.000 đồng. Đến 16 giờ 00 phút ngày 27/11/2019, anh Vương không nhận được hàng và không liên lạc được với Thương nữa .

Vụ thứ năm, ngày 23/11/2019, Thương sử dụng facebook “Trang Phạm” đăng bài bán các loại hải sản lên nhóm “Chợ đầu mối hải sản - đầu mối Bình điền”. Chị Nguyễn Thị Thủy ở thôn 5, xã Kiến Quốc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng sử dụng facebook “Thủy Nguyễn” là thành viên trong nhóm thấy tài khoản facebook “Trang Phạm” đăng bài như trên. Chị Thủy nhắn tin qua Messenger cho Thương để hỏi. Thương tải ảnh mực trên mạng về gửi qua tin nhắn Messenger cho chị Thủy tạo niềm tin. Chị Thủy đặt mua 50 kg mực ống với giá 160.000 đồng/kg; 50 kg mực gai với giá 120.000 đồng/kg và 50 kg bạch tuộc với giá 75.000 đồng/kg. Tổng tiền 15.170.000 đồng. Thương yêu cầu chuyển tiền trước, chị Thủy chỉ đồng ý chuyển trước 10.000.000 đồng. Đến sáng ngày 26/11/2019, Thương sử dụng zalo “Phạm Trang” nhắn tin gửi số điện thoại 0987.494.973 của mình cho chị Thủy rồi nói đây là số điện thoại nhà xe để nhận hàng và yêu cầu chị Thủy chuyển 10.000.000 đồng đặt cọc mua hải sản vào số tài khoản: 19034978805011, Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Ngọc. Sau khi nhận tiền, Thương đến cửa hàng gặp, nói với chị Ngọc: “lấy tiền hàng gửi vào tài khoản Techcombank của chị là 10.000.000 đồng”, chị Ngọc kiểm tra và đưa cho Thương 10.000.000 đồng. Đến ngày 29/11/2019, chị Thủy không nhận được hàng và không liên lạc được với Thương nữa .

Vụ thứ sáu, ngày 26/11/2019, Thương sử dụng facebook “Trang Phạm” đăng bài bán các loại hải sản lên facebook. Anh Nguyễn Thanh Lũy ở thôn Phú Long, xã Long Hải, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận có facebook là “Nguyen Thanh Luy” thấy tài khoản facebook “Trang Phạm” đăng bài bán hải sản như trên. Anh Lũy nhắn tin cho Thương để hỏi mua Bạch tuộc. Thương tự giới thiệu là sống ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Thương gửi hình ảnh Bạch tuộc đã tải trên mạng về gửi cho anh Lũy xem nên tin tưởng. Sau khi thỏa thuận, Thương đồng ý bán với giá 80.000/kg Bạch tuộc thì anh Lũy đặt mua 300 kg, Thương yêu cầu chuyển khoản trước 50% số tiền hàng. Đến 11 giờ 49 phút cùng ngày, anh Lũy đã dùng phần mềm Internet Banking, số tài khoản 4815205026171 chuyển 15.000.000 đồng tiền đặt cọc đến số tài khoản 19034978805011, Ngân hàng Techcombank, chủ tài khoản là Nguyễn Thị Ngọc. Đến 13 giờ 16 phút cùng ngày, Thương nhắn tin cho anh Lũy nói là hàng đã đóng xong, tổng số lượng là 351 kg với giá 80.000 đồng/kg và bảo anh Lũy chuyển hết số tiền hàng còn lại vào số tài khoản 103878959999, Ngân hàng Viettinbank, chủ tài khoản Triệu Thị Thiện (cửa hàng làm dịch vụ chuyển tiền tư nhân ở thị trấn Quan Minh, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội). Thương dùng số điện thoại 0982.652.645 để liên lạc với số điện thoại 0989.099.980 của anh Lũy. Thương nói với anh Lũy: “15 giờ ngày 26/11/2019 xe xuất bến và gần sáng ngày 27/11/2019 sẽ đến nơi”. Thương tải hình ảnh xe khách Thành Hưng mang biển số 43B-018.55 chạy tuyến thành phố Đà Nẵng đi Bến xe Miền Đông trên mạng về, sau đó chỉnh sửa hình ảnh và ghép số điện thoại 0987.494.973 của mình lên trước đầu xe khách. Anh Lũy gọi vào số điện thoại nhà xe thì Thương nghe điện thoại, xác nhận 07 thùng hàng của anh Lũy đã được chuyển lên xe nên tin tưởng là thật. Đến 14 giờ 15 phút cùng ngày, anh Lũy tiếp tục dùng phần mềm Internet Banking của mình chuyển 13.000.000 đồng vào tài khoản của chị Thiện mà Thương đã cung cấp. Sau đó, Thương đã đến cửa hàng chuyển tiền tư nhân của chị Ngọc và chị Thiện nói lấy tiền hàng bạn gửi. Sau khi nhận 28.000.000 đồng, Thương thuê anh Trần Trung Nguyên khóa tài khoản facebook của anh Lũy để xóa dấu vết và anh Lũy không liên lạc được với Thương nữa.

Vụ thứ bảy, ngày 02/12/2019, Thương sử dụng facebook “Nguyễn Giỏi” đăng bài bán hải sản lên facebook. Chị Trần Thị Ngọc Châu ở Ấp 2, xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre có facebook là “Ngọc Châu” thấy tài khoản facebook “Nguyễn Giỏi” đăng bài bán hải sản như trên nên đã nhắn tin hỏi mua. Thương giới thiệu ở thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên. Thương tải hình ảnh cá ở trên mạng về gửi cho chị Châu xem, tin tưởng là thật. Chị Châu đặt mua 100 kg cá Lưỡi trâu với giá 55.000 đồng/kg. Thương lên mạng tải hình hai thùng cá đã đóng gửi hình cho chị Châu xem. Thương tải hình ảnh danh thiếp nhà xe Phương Thảo chạy tuyến thành phố Đà Nẵng đi tỉnh Bến Tre trên mạng về chỉnh sửa và ghi số điện thoại 0357.394.689 của Thương vào danh thiếp. Thương bảo chị Châu gọi theo số điện thoại nhà xe để xác nhận. Chị Châu gọi điện thì Thương nghe điện thoại và xác nhận là có 02 thùng hàng cá gửi trên xe đi huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Chị Châu tin tưởng là thật, đã chuyển số tiền 5.500.000 đồng vào số tài khoản 0611000184307, chủ tài khoản Nguyễn Văn Quân như Thương yêu cầu. Sau đó, Thương nhờ anh Quân chuyển khoản 5.500.000 đồng đến số tài khoản Ngân hàng Agribank của mình rồi lấy tiêu xài. Đến ngày 03/12/2019, chị Châu không nhận được hàng và không liên lạc được với Thương nữa .

Vụ thứ tám, đầu tháng 11/2019, Thương sử dụng tài khoản facebook “Trang Trang” đăng nhập vào facebook thì thấy tài khoản facebook “Thùy Linh- Hải sản Thăng Long” của chị Tô Thùy Linh (là nhân viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu SHS Thăng Long) đăng bán các loại cá. Thương nhắn tin qua Messenger cho chị Linh hỏi mua. Thương giới thiệu tên là Hà làm ở Công ty trách nhiệm hữu hạn Sam Sung Bắc Ninh nên cần nguồn hàng số lượng lớn để cung cấp cho bếp ăn của công ty. Chị Linh tư vấn cung cấp các mặt hàng hải sản kèm theo giá. Thương đồng ý mua 10 thùng Gà đông lạnh, mỗi thùng là 15,5 kg; 20 thùng cá Nục đông lạnh, mỗi thùng 10 kg và 10 thùng cá Kìm đông lạnh, mỗi thùng 10 kg với giá 17.163.000 đồng. Theo thỏa thuận, Thương chuyển tiền rồi mới chuyển hàng nên Thương đã chỉnh sửa giao diện chuyển tiền Banking của Ngân hàng rồi gửi cho chị Linh. Thương tiếp tục liên lạc với chị Linh nói là nhờ người tên Trang đến lấy hàng thì chị Linh đồng ý. Thương đã trực tiếp đến nhận hàng từ Linh rồi mang đi bán. Sau đó, Thương khóa tài khoản facebook nên chị Linh không liên lạc được với Thương nữa .

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐG ngày 25/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Sầm Sơn kết luận: 10 thùng Gà đông lạnh, mỗi thùng là 15,5 kg trị giá 6.045.000 đồng; 20 thùng cá Nục đông lạnh, mỗi thùng 10 kg trị giá 6.800.000 đồng; 10 thùng cá Kìm đông lạnh, mỗi thùng 10 kg trị giá 4.500.000 đồng. Tổng là 17.112.500 đồng .

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn, Nguyễn Thị Thu Thương đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình là phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã thu thập được.

Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37FW màu trắng xám, số Imei 1: 865266034182338 và số Imei 2: 865266034182320, gắn sim số 0978060511 và sim số 0976884612; 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu trắng, số Imei 1: 864188041780972 và số Imei 2: 864188041820984, gắn sim số 0778454778 và sim số 0988605800, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn chuyển theo hồ sơ vụ án .

Đối với 01 quyền vở kẻ ô ly có nội dung liên quan đến vụ án; 01 (một) đoạn video chứa hình ảnh Nguyễn Thị Thu Thương đến cửa hàng của chị Nguyễn Thị Ngọc rút tiền; bản sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank của số tài khoản 19034978805011, chủ tài khoản Nguyễn Thị Ngọc; bản sao kê tài khoản ngân hàng Viettinbank của số tài khoản 103878959999, chủ tài khoản Triệu Thị Thiện và bản sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank của số tài khoản 0611000184307, chủ tài khoản Nguyễn Văn Quân, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Sầm Sơn đang lưu trong hồ sơ vụ án .

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Nguyễn Thị Thu Thương đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng cho chị Cao Thị Phương. Chị Trần Thị Ngọc Châu không yêu cầu bồi thường; chị Phạm Hồng Nhung yêu cầu bồi thường 9.440.000 đồng; chị Nguyễn Thị Năm yêu cầu bồi thường 14.070.000 đồng; anh Ngô Đức Vương yêu cầu bồi thường 10.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thủy yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Thanh Lũy yêu cầu bồi thường 28.000.000 đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu SHS Thăng Long yêu cầu bồi thường 17.112.500 đồng - Đến nay, Nguyễn Thị Thu Thương chưa bồi thường.

Cáo trạng số 22 ngày 12/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn truy tố: Nguyễn Thị Thu T về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: - Đại diện viện kiếm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52 khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự.

Về mức hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu Th mức án từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho các bị hại có yêu cầu.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng và án phí.

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên, ở các giai đoạn điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định trong bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2]. Xét lời khai của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Từ ngày 12/11/2019 đến ngày 02/12/2019, Nguyễn Thị Thu T đã lợi dụng việc mua bán hàng hóa trực tuyến qua mạng xã hội facebook để chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các hình thức: Sử dụng hình ảnh giả mạo để giao dịch bán hàng hải sản và yêu cầu người mua chuyển tiền đặt cọc qua tài khoản ngân hàng của người làm dịch vụ chuyển tiền; thỏa thuận mua hàng. Khi nhận được tiền đặt cọc hoặc hàng hóa Thương cắt liên lạc, khóa tài khoản giao dịch với người mua hoặc người bán. Chiếm đoạt của các bị hại tổng số tiền và tài sản trị giá 154.922.000 đồng. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người bị hại. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 BLHS.

[3]. Xét tính chất của vụ án. Với mục đích chiếm đoạt tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân và lợi dụng vào sự mất cảnh giác của các bị hại, bị cáo đã thực hiện hành vi lừa dối thông qua đăng nhập mạng xã hội facebook đăng tin, về việc mua hàng, bán hàng hải sản, trao đổi thông tin, làm cho các bị hại tin tưởng chuyển tiền, chuyển hàng cho bị cáo, sau khi nhận được tiền, hàng hóa thì bị cáo ngắt liên lạc với bị hại, nhằm chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý hoang mang cho người dân trên diện rộng, vì vậy cần phải xử lý bị cáo thật nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. B/c có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội nhiều lần quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS. Có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, khắc phục được một phần hậu quả thiệt hại sảy ra; theo quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS. Mặc dù bị cáo chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nhiều lần, vì vậy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự. Ghi nhận bị hại Cao Thị P đã được bồi thường số tiền 60.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm; Bị hại Trần Thị Ngọc Châu không yêu cầu bồi thường;

Các bị hại chị Phạm Hồng Nhung yêu cầu bồi thường 9.440.000 đồng; chị Nguyễn Thị Năm yêu cầu bồi thường 14.070.000 đồng; anh Ngô Đức Vương yêu cầu bồi thường 10.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thủy yêu cầu bồi thường 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Thanh Lũy yêu cầu bồi thường 28.000.000 đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu SHS Thăng Long yêu cầu bồi thường 17.112.500 đồng – Bị cáo Nguyễn Thị Thu Thương phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho các bị hại có yêu cầu.

[6]. Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37FW màu trắng xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu trắng, là điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tôi nên tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước

[7]. Hình phạt bổ sung. Hiện tại bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Án phí. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định tại Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 – UBTVQH14 về án phí, lệ phí toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 174; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Khoản 1, 2 Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Điểm a, khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; 333 Bộ luật tố tụng hình

sự.

- Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 về án phí lệ phí toà án.

Tuyên bố: Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt i ản”

Xử phạt: Nguyễn Thị Thu T 04 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (05/12/2019).

Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường cho bị hại Cao Thị P số tiền 60.000.000 đồng và không yêu cầu gì thêm; Bị hại Trần Thị Ngọc Châu không yêu cầu bồi thường;

Bị cáo Nguyễn Thị Thu Thương phải có trách nhiệm bồi thường cho các bị hại: Chị Phạm Hồng Nhung 9.440.000 đồng; chị Nguyễn Thị Năm 14.070.000 đồng; anh Ngô Đức Vương 10.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Thủy 10.000.000 đồng; anh Nguyễn Thanh Lũy 28.000.000 đồng và Công ty trách nhiệm hữu hạn Xuất nhập khẩu SHS Thăng Long 17.112.500 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37FW màu trắng xám, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, màu trắng, bên trong gắn sim theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 10 giờ ngày 14/5/2020 giữa cơ quan công an thành phố Sầm Sơn và chi cục Thi hành án TP Sầm Sơn.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200 000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.471.000 đồng tiền án phí sơ thẩm dân sự trong hình sự.

Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về phần có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được quyết định thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án; yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự, thơi hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ