- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Phước Qvà Trần Duy Lphạm tội “Cố ý gây thương tích”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 27/2020/HS-ST Ngày 23/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kia và ông Nguyễn Xuân Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 23/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Đỗ Minh Ch, sinh năm 1993 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ 2, phường AB, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh Hoàng và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là Phan Thị Kiều T (đã ly hôn năm 2016) và có 01 con; tiền án: Có 01 tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 13/7/2019 cho đến nay; có mặt.
2. Nguyễn Phước Q, tên gọi khác: Chúc Tự; sinh năm 1985 tại ĐP, Gia Lai; nơi cư trú: Thôn HA, xã CA, huyện ĐP, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn B T và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ là Hồ Hương D và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 20/6/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã được xóa; ngày 25/6/2008 bị Tòa án nhân dân thị xã A xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đã được xóa; ngày 24/8/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã A xử phạt 02 năm tù về tội “Đánh bạc”, đã được xóa; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2020 cho đến ngày 28/3/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
3. Trần Duy L, tên gọi khác là Đen, sinh năm 1995 tại A, Gia Lai; nơi cư trú: Tổ 4, phường Ngô Mây, thị xã A, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ph và bà Huỳnh Thị Kim L; tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự về hành vi đánh nhau; về nhân thân: Vào ngày 12/9/2019 bị xử phạt tiền về hành vi đánh nhau; bị tạm giữ từ ngày 12/6/2020 cho đến ngày 15/6/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Duy L: Luật sư Tống Đức Ng - Văn phòng Luật sư HT, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Gia Lai; có mặt.
- Bị hại: Đinh T, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ 1, phường AB, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 2, phường An Phú, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
2. Diệp Năng B, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn HA, xã CA, huyện ĐP, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Huỳnh Tấn L; vắng mặt;
2. Vũ Hùng M; vắng mặt;
3. Võ Thị Hồng H; vắng mặt;
4. Phan Thanh P; vắng mặt;
5. Phan Đức T; vắng mặt;
6. Nguyễn Văn Đt; vắng mặt;
7. Nguyễn Bá T; vắng mặt;
8. Ngô Hữu K; vắng mặt;
9. Trần Thanh H; vắng mặt;
10. Trần Thanh K; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 09/5/2019 Đinh Thvà Huỳnh Tấn L đến quán bi da Men thuộc Tổ 8, phường An Phú, thị xã A chơi. Tại đây Diệp Năng Bình và Vũ Hùng Mạnh cũng đang đánh bi da ở bàn số 2. Bình nói có ai làm trọng tài ghi điểm cho 50.000đ, nghe vậy L nói Th ghi điểm, Th đồng ý.
Khi Bình và Mạnh đánh xong hai cơ bi da, L nói Bình cho tiền Th, Bình nói “Đánh xong sẽ cho”, nên giữa L và Bình lời qua tiếng lại. Lúc này, Đỗ Minh C là người quen với Bình đang xem đánh bi da tại quán thấy vậy C nói với L: “Sao nói mất dạy với anh B, không ghi điểm thì thôi để tự ghi”, thì giữa C và L xảy ra mâu thuẫn. C đi ra trước quán bi da lấy xe môtô hiệu Honda Wave màu trắng (không xác định biển kiểm soát) về nhà ở Tổ 2, phường AB lấy 01 cây kiếm dài 61,1cm đến quán bida Men để đánh L.
Trên đường quay lại quán bi da, C điện thoại cho Nguyễn Phước Qvà đến quán cà phê Hoa Nắng gặp Q. C nói với Q“Thằng L mất dạy với anh Bình, em nói, nó thách đố em làm gì được nó, giờ xuống đánh nó”. Nghe C nói vậy, Qđồng ý đi cùng C đến quán bi da Men. C đưa xe môtô cho Qđiều khiển chở C đến quán bi da Men. Trên đường đi C tiếp tục điện thoại cho Trần Duy Lnói “Mày đang ở đâu, lên đây có chuyện tý”. L hỏi “Ở đâu?”, C nói “Vô quán bida Men”. Lúc này L đang ngồi cùng Nguyễn Thanh K, nên rủ K cùng đi. L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Suzuki sport biển kiểm soát 81B1-83328 chở K đến quán bi da Men.
Khi Qchở C đến quán bi da thì C cầm kiếm xông vào để chém L nhưng được mọi người can ngăn, đẩy C ra trước quán. Khoảng 1-2 phút sau C tiếp tục cầm kiếm xông vào thì mọi người can ngăn. Qchở C đi về được khoảng 200m thì gặp L chở K chạy ngược Cều. C nói Qquay xe lại quán bi da Men, L điều khiển xe chạy theo phía sau.
Đến nơi C cầm kiếm ở tay phải đi vào trong quán, L và Qcùng đi theo phía sau. C xông đến chỗ L đang đứng giơ kiếm lên định chém thì anh Ngô Hữu Ký cản lại. Đinh Th thấy vậy, cầm 01 cây cơ bi da dài khoảng 1,4m đánh C. Qnhìn thấy nói “Nó cầm cây cơ bổ mày kìa C”. Th cầm cây cơ bi da đánh C nhưng không trúng, cây cơ bị gãy làm 2 khúc. Qđến ôm Th lại và tay phải cầm đoạn cây cơ bi da gãy (dài khoảng 60cm) đánh trúng đầu và vai Th. Cùng lúc đó L xông đến lấy hai viên bi da đường kính 06cm, tay phải cầm viên bi da màu trắng viên ném về phía Th nhưng không trúng. L dùng tay phải cầm viên bi da màu đỏ đánh vào đầu Th 2-3 cái.
Th bỏ chạy ra trước quán thì L cùng Qcầm cây cơ bi da, C cầm kiếm đuổi theo. Th chạy ra khỏi cửa kính khoảng 4m thì bị L dùng tay trái túm áo lại Th lại, C cầm kiếm bằng tay phải giơ lên chém Th 02 nhát trúng vào cẳng tay trái và thắt lưng, lưỡi kiếm đập xuống đất gãy thành 03 đoạn. Th bỏ chạy, C vứt cán kiếm trước quán bi da Men rồi Qchở C về nhà, K chở L về nhà.
Đinh Thđược đưa đi cấp cứu tại Trung tâm Y tế thị xã A sau đó chuyển xuống bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định điều trị đến ngày 13/5/2020 thì xuất viện.
Tại Giấy Chứng nhận thương tích số 369/GCN ngày 31/5/2019 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh BĐ xác định thương tích lúc vào viện của Đinh Thnhư sau: Vết thương rách da khoảng 1cm vùng thái dương (T) đã cầm máu; vết thương phức tạp 1/3 giữa mặt sau ngoài cẳng tay (T) kích thước khoảng 10x5cm tổn thương cân cơ, lộ đầu xương gãy. Đứt gân gấp cổ tay trụ, duỗi cổ tay trụ, gãy xương trụ; vết thương vùng thắt lưng ngang khoảng L3-L4 kích thước 5x3cm chảy máu nhiều và dịch não tủy; Cẳng tay (T) gãy 1/3 giữa trụ (T).
Tại Bản Kết luận giám định Pháp y về thương tích số 125/2019/PY-TgT ngày 28/6/2019 của Trung tâm Pháp y tỉnh B Định kết luận thương tích của Đinh Thnhư sau: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên theo nguyên tắc cộng lùi hiện tại là 17%.
Quá trình điều tra đã tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm:
- 01 thanh kiếm bằng kim loại bị gãy thành 3 đoạn, gồm: 01 đoạn đầu mũi kiếm dài 15,3cm, bản lưỡi kiếm rộng nhất là 03cm, mũi nhọn; 01 đoạn thân của lưỡi kiếm bị gãy dài 23,3cm, bản lưỡi kiếm rộng 3cm; 01 đoạn cán có dính một phần lưỡi kiếm dài 22,5cm, cán của thanh kiếm dài 14,6cm, có ốp hai miếng gỗ màu nâu ở hai mặt, phần lưỡi kiếm dài 7,9cm, bản lưỡi kiếm rộng 3cm, phía bên trái của lưỡi kiếm có khắc chữ AK-47 CCCP và có dính 01 vết màu nâu (nghi máu) đã khô diện (1,5x0,5)cm cách cán kiếm 06cm.
- 01 đĩa DVD có lưu trữ 08 video clip được trích xuất từ camera an ninh của quán bida Men vào ngày 09/5/2019.
- 01 viên bi da màu đỏ, đường kính 06 cm, 01 viên bi da màu trắng, đường kính 06cm.
Đối với 01 cây cơ bi da dài khoảng 1,4m mà Đinh T dùng đánh Đỗ Minh C bị gãy thành 2 đoạn, Nguyễn Phước Q lấy một đoạn để đánh Thạch, sau đó bỏ tại quán bi da Men. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng C sử dụng để về nhà lấy kiếm, quá trình điều tra không xác định được biển kiểm soát của xe, không xác định được nhân thân lai lịch người tên Hùng (theo lời khai của C) nên không thu giữ được.
Xe mô tô 81B1-83328 của gia đình Trần Duy L, gia đình L không biết việc L sử dụng xe đi đến quán bi da Men đánh nhau, khoảng tháng 10 năm 2019, bà Huỳnh Thị Kim Liên (mẹ L) đã bán lại cho người khác.
Tại Kết luận giám định số 1139/C09CB ngày 11/2/2020 của Phân Viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh xác định: 08 tập tin video lưu trong đĩa DVD-R hiệu KAC 4.7 GB, mã số DR5F60-5003 ký hiệu A: không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung; Người mặc quần Jean màu xanh, áo màu tím, đội mũ màu đỏ tay cầm cơ bi da bị gãy đánh vào vùng đầu, vùng tay trên cơ thể đối tượng mặc quần Jean lửng, áo tay dài màu đen, đội mũ màu đen (Đinh T); Người mặc quần Jean màu xanh, áo tay dài màu đen, đội mũ màu trắng tay cầm banh bi da đánh vào vùng đầu trên cơ thể đối tượng mặc quần Jean lửng, áo tay dài màu đen, đội mũ màu đen (Đinh T); Không quay lại được toàn bộ vụ đánh nhau nên không xác định được đối tượng quần Jean màu xanh, áo tay dài màu trắng, đội mũ màu trắng, tay cầm vật giống thanh kiếm đánh vào vị trí nào trên cơ thể đối tượng người mặc quần Jean lửng, áo tay dài màu đen, đội mũ màu đen (Đinh T). Không đủ cơ sở xác định được 03 đối tượng người có đánh trúng vào vùng thái dương trái của Đinh T hay không.
Lời khai của bị hại anh Đinh T có tại hồ sơ vụ án có nội dung:
Đơn yêu cầu giám định thương tích vào ngày 23/5/2019 của Đinh T (Bút lục 57) thể hiện nội dung: Vào ngày 09/5/2019 tại quán bida Men Thạch bị C, Q và 02 người thanh niên khác đánh, trong đó C dùng kiếm chém, Q dùng cơ bida và hai thanh niên khác dí và đánh gây thương tích ở tay trái và lưng.
Biên bản ghi lời khai của Đinh T vào ngày 23/5/2019 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A (Bút lục 48) có nội dung: Vào khoảng 08 giờ ngày 09/5/2019 Đinh Thạnh cùng Huỳnh Tấn L đến quán bida Men chơi, sau đó giữa L và anh Diệp Năng B, Đỗ Minh Ch xảy ra cãi nhau. C đã bỏ đi và sau đó 2 lần cầm kiếm đến đòi chém L nhưng được mọi người can ngăn. Đến lần thứ 3 C cầm kiếm chạy vào hướng của Thạch và L đang đứng, Thạch sợ quá nên có dùng cây cơ bi da đánh về hướng C nhưng không trúng, cây cơ bi da bị gãy làm đôi. C cầm kiếm xông đến chỗ Thạch, Thạch bỏ chạy ra trước quán thì có ai đó ôm giữ Thạch lại. Thạch vùng ra bỏ chạy ra đến sân quán thì bị C đuổi theo và dùng kiếm chém trúng vào cẳng tay trái 1 cái, Thạch ngã xuống sân và bị C chém trúng vào lưng 1 cái. Ngoài hai vết thương ở tay trái và lưng thì Thạch còn bị một vết thương ở vùng đầu mà Thạch không biết do ai gây ra.
Biên bản ghi lời khai của Đinh T vào ngày 03/9/2019 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A (Bút lục 50) có nội dung: Khi bị C cầm kiếm đuổi đánh trong quán bi da, Thạch bỏ chạy ra đến cửa quán thì bị trượt ngã va đầu vào cạnh cửa kính gây trầy da chảy máu. Đinh T chỉ xác định C gây thương tích cho mình ngoài ra không có ai khác gây thương tích cho Thạch.
Đinh T có đơn xin bãi nại vào ngày 28/6/2019 (Bút lục 59, 60) có nội dung đề nghị không điều tra, truy tố, xét xử đối với Đỗ Minh Ch và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị Thu H có nội dung: Chị là chủ quán bida Men ở Tổ 8, phường An Phú, thị xã A, vào ngày 09/5/2019 tại quán của chị xảy ra đánh nhau và làm gãy 01 cây cơ bi da. Diệp Năng Bình đã bồi thường cho chị số tiền 200.000 đồng nên chị không có yêu cầu gì.
Lời khai của những người làm chứng có tại hồ sơ thể hiện vào ngày 09/5/2019 họ nhìn thấy Đỗ Minh Ch dùng kiếm, Nguyễn Phước Q và Trần Duy L dùng cây cơ bi da và viên bi da đánh anh Đinh T.
Cáo trạng số 48A/CT-VKS ngày 28/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Phước Qvà Trần Duy Lvề tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Phước Qvà Trần Duy Lphạm tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị xử phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Đỗ Minh Ch; xử phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù đối với các bị cáo Nguyễn Phước Q và Trần Duy L.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Duy L trình bày: Trên cơ sở kết quả xét hỏi công khai tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Duy L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát. Người bào chữa đồng ý với Đại diện Viện kiểm sát về việc đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Duy L. Tuy nhiên vì bị cáo L có vai trò thứ yếu trong vụ án, khi tham gia nghĩa vụ quân sự đã có thành tích tốt được tặng Giấy khen. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, xử bị cáo L mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mặc dù lời khai của bị hại có tại hồ sơ không đồng nhất, không xác định được ai gây thương tích cho mình, tuy nhiên tại phiên tòa lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với thương tích của bị hại được xác định tại Giấy chứng nhận thương tích số 369/GCN ngày 31/5/2019 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định; phù hợp với hình ảnh trong video clip trích xuất từ camera của quán bida Men vào ngày 09/5/2019, được mở công khai tại phiên tòa. Do vậy có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 09/5/2019 tại quán bida Men thuộc Tổ 8, phường An Phú, thị xã A, tỉnh Gia Lai, bị cáo Đỗ Minh C dùng kiếm, Nguyễn Phước Qdùng cây cơ bida đánh bị hại anh Đinh T, gây thương tích cho anh Th với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 17 %. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Kiếm, cây cơ bida, viên bida mà các bị cáo sử dụng gây thương tích cho bị hại là “Hung khí nguy hiểm”, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự nên không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy mặc dù bị hại có đơn đề nghị không khởi tố vụ án nhưng không thuộc trường hợp đình chỉ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về vai trò, mức độ hành vi của từng bị cáo: Các bị cáo tuy không bàn bạc, lên kế hoạch nhưng hành vi của các bị cáo thể hiện việc cố ý cùng nhau thực hiện một tội phạm, là đồng phạm, do vậy các bị cáo đều phải chịu chung trách nhiệm đối với hậu quả thương tích đã gây ra cho bị hại. Các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ với nhau khi thực hiện tội phạm nên chỉ là đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành. Xét vai trò của từng bị cáo thì thấy rằng bị cáo Đỗ Minh Ch đóng vai trò chính trong vụ án, bị cáo là người khởi xướng, chuẩn bị hung khí và rủ rê, lôi kéo Nguyễn Phước Q và Trần Duy L tham gia đánh nhau. Mặc dù nhiều lần anh Ngô Hữu Ký can ngăn nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện đến cùng.
Người bào chữa cho bị cáo L cho rằng bị cáo L đóng vai trò thứ yếu trong vụ án, tuy nhiên các tài liệu có trong hồ sơ và lời khai tại phiên tòa thể hiện khi biết C vào quán bida Men để đánh nhau nhưng L vẫn cùng đi vào. Khi Q ôm và dùng cây cơ bi da đánh Thạch thì L cũng dùng viên bi da ném và đánh vào đầu Thạch. Khi bị hại Thạch bỏ chạy thì L và Q cùng đuổi theo, L dùng tay túm áo Thạch và C dung kiếm chém Thạch. Do vậy cần đánh giá vai trò của các bị cáo Q và L là ngang nhau, cùng tích cực tham gia đánh bị hại.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Minh Ch vào ngày 14/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện ĐP bị xử phạt 06 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” , bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp “tái phạm” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Các Nguyễn Phước Q và Trần Duy L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đỗ Minh Ch sau khi phạm tội đã không khai báo đúng sự thật toàn bộ nội dung sự việc, gây khó khăn và làm kéo dài quá trình điều tra vụ án. Tuy vậy tại phiên tòa bị cáo cùng các bị cáo L và Q cũng đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình; bị hại có đơn đề nghị không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ch; các bị cáo L và Q đã ra đầu thú, do vậy các bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Người bào chữa cho rằng bị cáo L trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự đã có nhiều thành tích và được tặng Giấy khen nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên theo quy định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng đối với khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, được áp dụng tương tự đối với khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp bị cáo L được Chính ủy Trung đoàn BB24 tặng Giấy khen “vì đã có thành tích tốt trong thực hiện phong trào thi đua cao điểm chào mừng Đại hội thi đua quyết thắng Quân đoàn, 70 năm ngày thành lập Quân dội nhân dân Việt Nam” (Quyết định 1121 QĐ/KT ngày 14/12/2014) không thuộc trường hợp được xem xét để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên không được chấp nhận.
Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, bị cáo Ch đang có 01 tiền án về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; bị cáo Nguyễn Phước Q đã 03 lần phạm tội và bị các Tòa án xử phạt tù; bị cáo Trần Duy L có 01 tiền sự về hành vi đánh nhau và vào ngày 12/9/2019 (sau khi đánh Đinh T ngày 09/5/2019) bị xử phạt tiền về hành vi đánh nhau.
Về hình phạt: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đinh T không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên Hội xét xử không xét.
Đối với cây cơ bi da của quán bi da Men bị gãy, anh Diệp Năng Bình bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thu Hà 200.000 đồng, chị Hà nhận tiền và không có yêu cầu gì. Anh B cũng không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Thanh K, đi cùng với Trần Duy Lnhưng K không bàn bạc, thỏa thuận gì với L, C, Qvề việc đánh nhau. Đồng thời, không tham gia việc đánh Đinh Thnên không xử lý đối với K là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với các vật chứng đã thu giữ gồm 01 đoạn đầu mũi kiếm,01 đoạn thân của lưỡi kiếm bị gãy, 01 đoạn cán có dính một phần lưỡi kiếm, cán của thanh kiếm, phần lưỡi kiếm dài 7,9cm, là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 viên bi da màu đỏ và 01 viên bi da màu trắng là của chị Nguyễn Thị Thu H, nên trả lại cho chị H.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 299; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Minh Ch.
1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Minh C, Nguyễn Phước Qvà Trần Duy Lphạm tội “Cố ý gây thương tích”;
2. Xử phạt bị cáo Đỗ Minh Ch 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam, ngày 13/7/2019.
4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phước Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 25/3/2020.
5. Xử phạt bị cáo Trần Duy L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 12/6/2020.
6. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 đoạn đầu mũi kiếm dài 15,3cm, bản lưỡi kiếm rộng nhất là 03cm, mũi nhọn; 01 đoạn thân của lưỡi kiếm bị gãy dài 23,3cm, bản lưỡi kiếm rộng 3cm; 01 đoạn cán có dính một phần lưỡi kiếm dài 22,5cm, cán của thanh kiếm dài 14,6cm, có ốp hai miếng gỗ màu nâu ở hai mặt, phần lưỡi kiếm dài 7,9cm, bản lưỡi kiếm rộng 3cm, phía bên trái của lưỡi kiếm có khắc chữ AK-47 CCCP và có dính 01 vết màu nâu (nghi máu) đã khô diện (1,5x0,5)cm cách cán kiếm 06cm;
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu H 01 (một) viên bi da màu đỏ, đường kính 06 cm, 01 (một) viên bi da màu trắng, đường kính 06cm.
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại C cục Thi hành án dân sự thị xã A)
7. Về án phí: Buộc các bị cáo Đỗ Minh Ch, Nguyễn Phước Q và Trần Duy L mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 23/9/2020. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thị xã A; - Công an thị xã A; - C cục THADS thị xã A; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Thảo |