- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Việt Cường - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HS-ST Ngày: 05-3-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Châu Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Võ Hùng Dương;
2/ Ông Đặng Minh Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị T H– Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Việt C, sinh năm 1977. Tại: Thái Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Buôn Bán; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Đỗ Thị H; có vợ Trần Thị L và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/9/2019 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ 36, khu 5, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1976. Địa chỉ: Thôn 5, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt.
Người làm chứng: Ông Trần Tuấn K, ông Nguyễn Mạnh T, ông Lê Minh Q. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 01/9/2019, anh Trần Ngọc T điều khiển xe đạp đi bán vé số dạo trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Khi anh T đi đến đoạn đường giao nhau giữa đường D8 và đường Cách Mạng Tháng 8, đoạn thuộc khu 3, phường Chánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương thì gặp Nguyễn Việt C điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 54U4-2093 chạy đến dừng xe gần anh T và kêu anh T đưa vé số cho C chọn mua. Khi đó anh T đưa cọc vé số gồm 165 (một trăm sáu mươi lăm) tờ vé số do Công ty Xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh phát hành, trị giá 10.000 đồng/tờ, mở thưởng ngày 02/09/2019 cho C cầm để lựa vé số, lúc này C nảy sinh ý định chiếm đoạt cọc vé số của anh T nên C cầm vé số trên tay phải chuyển sang tay trái và cố ý làm rơi vài tờ vé số xuống đất để anh T nhặt vé số. Khi C thấy anh T khom người xuống nhặt vé số do C làm rớt trên đường thì C đột ngột tăng ga xe để bỏ chạy. Liền lúc này, theo phản xạ anh T dùng hai tay chụp nắm T cản đuôi xe của C để kéo lại thì bị C điều khiển xe chạy kéo lê anh T sang bên trái đường một đoạn khoảng 08 (tám) mét. Bị cướp giật tài sản, anh T kêu lớn “Cướp, cướp ...” thì C ném bỏ lại cọc vé số và xuống xe bỏ chạy. Nghe tiếng kêu của anh T, các anh Trần Tuấn Kiệt, anh Nguyễn Mạnh Tuấn, anh Lê Minh Quang cùng một số người dân ở khu vực gần hiện trường truy đuổi, bắt giữ được C và thu giữ được số vật chứng, gồm: 84 (tám mươi bốn) tờ vé số do Công ty Xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh phát hành, trị giá 10.000 đồng/tờ, mở thưởng ngày 02/09/2019; 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu bạc-trắng-đen, biển số 54U4-2093 và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 54U4-2093; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59L1-336.36 do Châu Tuấn Hưng đứng tên chủ sở hữu; 01 (một) Giấy căn cước công dân, 01 (một) Hộ chiếu, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Nguyễn Việt C; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu tím; 01 (một) điện thoại di dộng hiệu OPPO, màu đỏ; 01 (một) điện thoại di dộng hiệu OPPO, màu đỏ-tím; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 phus, màu xám; 02 (hai) đồng hồ đeo tay và số tiền 6.800.000 (Sáu triệu, tám trăm ngàn) đồng. Đồng thời, cùng lúc này có Tổ tuần tra thuộc Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội – Công an tỉnh Bình Dương trên đường tuần tra đã hỗ trợ áp giải đối tượng Nguyễn Việt C giao cho Công an phường Chánh Nghĩa để lập biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang. Đến sáng ngày 02/9/2019, Công an phường Chánh Nghĩa đã bàn giao hồ sơ vụ việc và đối tượng Nguyễn Việt C cùng vật chứng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, chị Nguyễn Thị Thu H là chị ruột của Nguyễn Việt C đã thay mặt C bồi thường thiệt hại cho anh Trần Ngọc T số tiền 1.810.000 (Một triệu, tám trăm mười ngàn) đồng. Hiện tại, anh T không yêu cầu C bồi thường thêm gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho C.
Đối với vật chứng được thu giữ, trong quá trình điều tra đã xác định và xử lý như sau:
- 84 (Tám mươi bốn) tờ vé số do Công ty Xổ số kiến thiết thành phố Hồ Chí Minh phát hành, trị giá 10.000 đồng/tờ, mở thưởng ngày 02/09/2019 là của anh Trần Ngọc T. Ngày 02/9/2019, Công an pHChánh Nghĩa đã lập biên bản giao trả cho anh T.
- 01 (Một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu bạc-trắng-đen, biển số 54U4-2093, số khung: Y130958, số máy: P11-130962, kèm theo 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 54U4-2093 là của bị can Nguyễn Việt C mua vào năm 2018 trên mạng chợ tốt để sử dụng nhưng không làm giấy tờ sang tên chủ sở hữu xe. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã đăng đài truyền T truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không có ai đến liên hệ giải quyết. Xét thấy đây là phương tiện C sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án thành phố Thủ Dầu Một để đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- 01 (Một) Giấy căn cước công dân, 01 (một) Hộ chiếu, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng B2, 01 (một) Giấy phép lái xe hạng A1 đều mang tên Nguyễn Việt C; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu tím; 01 (một) điện thoại di dộng hiệu OPPO, màu đỏ; 01 (một) điện thoại di dộng hiệu OPPO, màu đỏ-tím; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 phus, màu xám; 02 (hai) đồng hồ đeo tay, số tiền 6.800.000 (Sáu triệu, tám trăm ngàn) đồng và 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 59L1-336.36 do Châu Tuấn Hưng đứng tên là tài sản cá nhân của bị can Nguyễn Việt C và không liên quan vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã giao trả lại cho C theo Quyết định xử lý vật chứng số 39 ngày 26/12/2019.
Cáo trạng số 48/CT-VKS-HS ngày 20/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Nguyễn Việt C về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu bạc-trắng-đen, biển số 54U4-2093, số khung: Y130958, số máy: P11-130962 là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận. Khoảng 22 giờ ngày 01/9/2019, trên đoạn đường giao nhau giữa đường D8 và đường Cách Mạng Tháng 8, đoạn thuộc khu 3, pHChánh Nghĩa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Việt C có hành vi dùng thủ đoạn nguy hiểm là sử dụng xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật 165 (một trăm sáu mươi lăm) tờ vé số của anh Trần Ngọc T do Công ty Xổ số kiến thiết Thành phố Hồ Chí Minh phát hành, trị giá 10.000 đồng/tờ, mở thưởng ngày 02/9/2019 thì bị quần chúng nhân dân bắt quả tang. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi tHthiệt hại cho bị hại; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; cha mẹ của bị cáo là người có công với cách mạng, cha được thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang, mẹ được tặng Huân chương kháng chiến hạng ba. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nào khác nên không xem xét giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, màu bạc-trắng-đen, biển số 54U4-2093, số khung: Y130958, số máy: P11-130962 là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban tHvụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt C phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2/ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt C 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/9/2019.
3/ Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
4/ Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, màu bạc trắng đen, biển kiểm soát: 54U4-2093, số khung: Y130958 và số máy: P11-130962 (không kiểm tra chi tiết tình trạng hoạt động).
(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 074.20 ngày 17/01/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
5/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV06); - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THA thành phố Thủ Dầu Một; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | TM. HỘI Đ NG X T X SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Châu Giang |