vanban.org

Bản án 27/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2020. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn L - Vận chuyển trái phép chất ma túy - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAM RÔNG
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:27/2020/HS-ST
Ngày: 29/9/2020
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Rung K’Nhơn
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông: Vũ Xuân Quế
+ Ông: Âu Văn Nghị
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt –Thư ký Tòa án
Văn Dương – Kiểm sát viên.
K’Nàng,Tòa án nhân dân huyện Đam Rông mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình
sự thụ lý số: 32/2020/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số
35/2020/QĐXXST-HS ngày 18/9/2020 đối với bị cáo:
26 tháng 12 năm 1999 tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Xã Đ, huyện R, tỉnh Lâm Đồng. Chỗ ở
hiện nay: Thôn M, xã Đ, huyện R, tỉnh Lâm Đồng. Học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Làm nông.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa. Họ tên cha: Phạm Văn H (đã
chết). Họ tên mẹ: Trần Thị L, sinh năm 1954. Anh, em ruột: Có 03 người, lớn nhất sinh năm
1993, nhỏ nhất là bị cáo. Vợ, con: (chưa có). Tiền án, tiền sự: (không).
an huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Những người tham gia tố tụng:
* Người có nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Đông T, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn M, xã Đ, huyện R, tỉnh Lâm Đồng.
Vắng mặt tại phiên tòa
- Ông Lê Văn M (MB); Sinh năm: 1996;
Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện R, tỉnh Lâm Đồng.
Có mặt tại phiên tòa.
Vào hồi 08 giờ 30 phút, ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Hội trường nhà văn hóa xã Đạ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 30 phút ngày 18 tháng 4 năm 2020, Công an huyện Đam Rông phối hợp với Công an xã Phi Liêng bắt quả tang tại nhà Lê Văn M, sinh năm 1996 ở thôn T, xã P, huyện R có đối tượng Phạm Văn L đang cất giấu trong người 02 bịch nylon màu trắng, bên trong có chứa các chất bột dạng cục màu trắng ngà; thu giữ thêm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màn hình đen trắng, bàn phím số, vỏ màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng-xanh.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn L khai nhận: Bản thân là người nghiện ma túy, sử dụng heroine dưới hình thức chích. Tại địa phương, L quen biết với Hoàng Đông T, sinh năm 1976, cùng trú thôn M, xã Đ, huyện R, do nhiều lần cùng sử dụng ma túy tại nhà T. Vào khoảng 07 giờ ngày 18 tháng 4 năm 2020, Thư gọi điện thoại cho L, nói L đi vào khu vực T, xã P gặp một người phụ nữ, lấy ma túy về giao cho một người khác tại khu vực cầu sắt, giáp ranh giữa xã Đ, huyện R và xã T, huyện L, để được trả công 4.000.000 đồng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, Lê Văn M đến nhà L chơi. Sau đó, L đi cùng xe với M qua xã P rồi mượn xe của M nói đi công việc. L điều khiển xe mô tô đi vào khu vực T, thì gặp một người phụ nữ dân tộc H’Mông. Người này hỏi L: “Lấy đồ à?”, Lượng trả lời: “Vâng!”. Người phụ nữ đưa cho L 01 túi vải màu đen, bên trong có 02 bịch nylon màu trắng chứa heroine. L cầm túi vải treo lên gác ba ga xe. Sau đó L mua thêm 01 tép heroine với giá 100.000 đồng, với mục đích về sử dụng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L về đến nhà M, lấy tép Heroine ra chia cho M một nửa, cùng sử dụng dưới hình thức hít. Khi mới sử dụng xong, thì bị Công an bắt giữ.

Kiểm tra điện thoại thu giữ của Phạm Văn L, phát hiện có nhật ký cuộc gọi và tin nhắn từ số thuê bao 0918540594 của L và số thuê bao 0972073658 của Hoàng Đông T. L khai nhận nội dung tin nhắn có liên quan đến việc T yêu cầu L đi lấy ma túy. Tuy nhiên T không thừa nhận mà cho rằng nội dung tin nhắn liên quan đến việc T nói L đi lấy máy hút cát ở xã P. Đồng thời Hoàng Đông T khai nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá (Methamphetamine). Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Đông T, phát hiện thu giữ 04 ống thủy tinh, một đầu ống có bầu tròn (dụng cụ sử dụng ma túy đá) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen.

Theo Kết luận giám định số 730/GĐ-PC09 ngày 22/4/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự

- Công an tỉnh Lâm Đồng, kết luận: Mẫu cục bột đựng trong 02 túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 25,7320g, loại Heroine.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT: 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số: 28/QĐ-KSĐT ngày 14/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, để xét xử bị cáo Phạm Văn L về Tội vận chuyển trái phép chất ma túy, quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Trong phần tranh luâ ̣n, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luâ ̣n tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn L̃ phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 2 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phạm Văn L từ 08 đến 09 năm tù giam.

Về vâ ̣t chứng vụ án: Xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luâ ̣t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đa được thẩm trã tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhâ ̣n định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Văn L tại phiên tòa hôm nay, đối chiếu với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được, thì Hội đồng xét xử có căn cứ xác định rằng khoảng 12 giờ ngày 18/4/2020, Phạm Văn L mượn xe Mô tô của Lê Văn M đi vào khu vực tây sơn gặp 01 người phụ nữ dân tộc H’Mông để lấy ma túy về giao cho một người ở cầu sắt giáp ranh giữ Đ và xã T, huyện L để nhận tiền công là 4.000.000đ. Sau khi đến nơi một người phụ nữ dân tộc H’Mông đưa cho L 01 túi vải bên trong có 02 bịch ni long màu trắng chứa chất bột dạng cục màu trắng ngà là Heroin, đồng thời L còn bỏ tiền ra mua 01 tép ma túy mang về nhà Lê Văn M để sử dụng. Khi cả hai đang sử dụng ma túy thì công an huyện Đam Rông ập vào bắt quả tang, đồng thời thu giữ trong người của Lượng 25,7320gam Heroin. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Phạm Văn L phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h, khỏan 2 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là nhằm mục đích vận chuyển ma túy để giao cho một người khác nhằm lấy tiền công 4.000.000đ. Bị cáo biết rõ việc vận chuyển chất ma túy là việc làm trái quy định của pháp luật hình sự, nhưng chỉ vì mục đích vụ lợi cá nhân mà bị cáo đã bất chấp hành vi đó là hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo cũng cố tình thực hiện bằng được hành vi vận chuyển chất ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng chất ma túy của nhà nước, đồng thời gây mất an ninh trật tự trị an tại địa phương, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông truy tố bị cáo Phạm Văn L về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhưng lại không chịu làm ăn chân chính, mà ngược lại ham chơi, đua đòi, sử dụng trái phép chất ma túy, đây là căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đánh giá để quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luâ ̣t Hình sự năm 2015.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, nên cần áp dụng tình tiết giảm nhe ̣ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luâ ̣t Hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn về kinh tế, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong vụ án này còn có người phụ nữ giao ma túy cho Phạm Văn L, nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch. Đối với Hoàng Đông T, theo bị cáo L khai là người chỉ đạo bị cáo đến gặp người phụ nữ dân tộc H’Mông để lấy ma túy. Tuy nhiên Hoàng Đông Tkhông thừa nhận có chỉ đạo bị cáo Phạm văn L đi lấy ma túy, nên chưa có cơ sở để xử lý về mặt hình sự, để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm một cách triệt để, đề nghị cơ quan điều tra, tiếp tục điều tra làm rõ để xử lý sau.

. Về vật chứng: Tang vật vụ án gồm 02 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Lại Thanh Anh T”, “Trần Anh Thành L” và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Lâm Đồng bao gồm: 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; một phong bì đựng mẫu vật hoàn lại: 22,0459g, loại Heroine; 04 ống thủy tinh, một đầu ống có bầu tròn xét thấy không có giá trị sử dụng, nên tuyên tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng - xanh là phương tiện mà bị cáo dùng để liên lạc trong quá trình giao dịch ma túy, nên cần tuyên tịch thu bán sung công nhà nước.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia, màn hình đen trắng, bàn phím số, vỏ màu trắng của bị cáo không sử dụng vào mục đích liên lạc trong quá trình giao dịch ma túy nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen quá trình điều tra chưa chứng minh được Hoàng Đông T có liên quan đến hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy với bị cáo nên cần tuyên trả lại cho T

. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phạm Văn L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 250 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm h khoản 2 Điều 250; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn L 10 (Mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/4/2020.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Lại Thanh Anh T”, “Trần Anh Thành L” và hình dấu tròn màu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự

- công an tỉnh Lâm Đồng bao gồm: 01 phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định; một phong bì đựng mẫu vật hoàn lại: 22,0459g, loại Heroine; 04 ống thủy tinh, một đầu ống có bầu tròn.

Tịch thu bán sung công nhà nước Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màn hình cảm ứng, vỏ màu trắng-xanh.

Hoàn trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màn hình đen trắng, bàn phím số, vỏ màu trắng

Hoàn trả lại cho Hoàng Đông T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, vỏ màu đen

Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý bà sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Phạm Văn L phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (29/9/2020) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Lâm Đồng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- VKSND H.Đam Rông;

- CQ Đtra CA H.Đam Rông;

- CQ THAHS H.Đam Rông;

(đã ký)

- CC THADS H.Đam Rông;

- Bị cáo; Người bị hại;

- Người có QL,NV liên quan;

- Lưu HS.

Hoàng Rung K’Nhơn

Cỡ chữ