- Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/HS-ST Ngày: 30-7-2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Ty
Ông Chu Thành Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Khang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thành - Kiểm sát viên.
Sáng ngày 30 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/HSST ngày 18/5/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST-HS ngày 16/6/2020 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 22/12/1969, tại xã Cẩm T, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: Lớp 7/10; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1927 (đã chết) và Lê Thị L (tên thường gọi Lê Thị D), sinh năm 1932 (đã chết); Vợ Trần Thị H, sinh năm 1970, trú tại thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh; Con: 04 đứa, đứa lớn sinh năm 1992, đứa nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/03/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Biện Thị P, sinh năm 1971; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trú tại: Thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị Q - Luật sư Văn phòng luật sự An P, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1991; Trú tại: Thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Bà Phan Thị N, sinh năm 1971; Trú tại: Thôn Đông N Lộ, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1970; Trú tại: Thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Bà Trần Thị H, sinh năm 1970; Trú tại: Thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1969; Trú tại: thôn Đồng B, xá Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/02/2020, chị Biện Thị P cùng với con trai Nguyễn Bảo N và chị Nguyễn Thị D đến nhà Nguyễn Ngọc T để họp họ “Nguyễn Ng” bàn việc cúng rằm tháng giêng. Lúc này, Nguyễn Ngọc T cùng chị Trần Thị H (là vợ của T), anh Nguyễn Ngọc M, chị Phan Thị N và chị Nguyễn Thị Ng đang ngồi tại bàn uống nước trong phòng khách nhà của gia đình T. Khi thấy chị P, cháu N và chị D đi từ ngoài đường quốc lộ 1A vào đến mép sân nhà (cách bàn uống nước khoảng 08 mét), Nguyễn Ngọc T liền đứng dậy chửi chị P “P xừng không cho vào nhà”, đồng thời dùng tay trái cầm lấy một chiếc cốc uống nước bằng thủy tinh có quai, kích thước 06cm x 08cm trên bàn uống nước ném về phía chị P nhưng không trúng. T tiếp tục dùng tay trái cầm một chiếc cốc thủy tinh khác (cùng loại) ném theo hướng từ dưới lên, từ trong phòng khách ra ngoài sân, chiếc cốc bay trúng cửa thông gió phía trên cửa chính làm vỡ kính cửa thông gió, tiếp tục bay ra ngoài sân và trúng vào vùng thái dương bên trái đầu chị Biện Thị P, làm chị bị thương. Sau đó, chị P được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 04/02/2020 đến ngày 06/02/2020 ra viện. Ngày 11/02/2020, chị Biện Thị P làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc T về tội cố ý gây thương tích.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 17/TgT ngày 26/02/2020 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa tỉnh Hà Tĩnh xác định tỷ lệ thương tích của Biện Thị P là 01% (Một phần trăm).
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên thu giữ 01 miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 03 x 04cm; 02 miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 0,4 x 0,5cm.
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra Nguyễn Ngọc T đã đến thăm hỏi, động viên và tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000 đồng, nhưng bị hại không chấp nhận và có đơn yêu cầu bồi thường với tổng số tiền là 87.887.000 đồng. Số tiền 20.000.000 đồng, bị cáo đã tạm gửi tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên để chờ xử lý theo quy định.
Với hành vi nêu trên, bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSCX ngày 15/5/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên đã truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, tỷ lệ thương tích gây ra cho bị hại, nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a, i Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận việc bị cáo bồi thường cho bị hại với tổng số tiền 58.087.000đồng; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng đã thu giữ. Ngoài ra, còn đề nghị buộc bị cáo chịu án phí HSST và án phí DSST có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền 87.887.000đồng, bao gồm các khoản chi phí điều trị và tiền bù đắp tổn thất tinh thần ở mức tối đa, tương đương 50 tháng lương tối thiểu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có tại hồ sơ đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy:
Về tính hợp pháp của quyết định và hành vi của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Cáo trạng truy tố, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Vào khoảng 19 giờ ngày 04/02/2020, tại nhà của gia đình Nguyễn Ngọc T ở thôn Đông Nam L, xã Cẩm T, huyện Cẩm X, tỉnh Hà Tĩnh, khi chị Biện Thị P đến để họp bàn về việc cúng rằm tháng giêng của họ “Nguyễn N” đã bị Nguyễn Ngọc T chửi, không cho vào nhà, đồng thời cầm cốc uống nước bằng thủy tinh ném trúng vào vùng thái dương bên trái gây thương tích, với tỷ lệ tổn thương 01%. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong điều kiện đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và chỉ một mình bị cáo thực hiện.
Hành vi trên của Nguyễn Ngọc T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” tội danh và hình phạt được quy định tại Điểm a, i Khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, việc xét xử bị cáo về tội danh, điều luật như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng nào; về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã trực tiếp gặp bị hại để hỏi thăm sức khỏe, bồi thường trách nhiệm dân sự nhưng bị hại từ chối nên đã gửi vào Cơ quan thi hành án số tiền 20.000.000đồng để khắc phục hậu quả, tại phiên tòa bị cáo chấp nhận bồi thường tiếp số tiền 38.087.000đồng và xin được giao cho bị hại; bản thân bị cáo từng tham gia Quân đội nhân dân Việt Nam; bị cáo đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Duy T (Là bác ruột); mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì; chính quyền địa phương xác nhận và đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương, thờ cúng liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Mặc dù, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nhất thời, thương tích gây ra cho bị hại nhẹ (tỷ lệ 01%). Mặt khác, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đang thờ cúng liệt sỹ. Vì vậy, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà cần cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện sự khoan hồng, tính nhân đạo của pháp luật, để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, hòa nhập với cộng đồng xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Xuyên tại phiên tòa.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 87.887.000đồng, bao gồm:
- Tiền thuê taxi đi cấp cứu và đi về: 300.000đồng x 2 = 600.000đồng;
- Tiền thuốc: 2.201.000đồng;
- Tiền viện phí và điều trị nội trú: 2.100.000đồng; tiền khám lại 586.000đồng;
- Tiền mua thuốc bồi bổ phục hồi sức khỏe: 5.000.000đồng;
- Chi phí ăn uống chăm sóc trong thời gian điều trị: 1.000.000đồng;
- Chi phí ăn uống, đi lại của người chăm sóc: 1.000.000đồng;
- Thu nhập thực tế bị mất của người chăn sóc: 900.000đồng;
- Tiền bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần 50 tháng lương tối thiểu: 50 x 1.490.000đồng/tháng = 74.500.000đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường toàn bộ các chi phí theo yêu cầu của bị hại, gồm: Tiền thuê xe taxi; tiền thuốc; tiền viện phí và điều trị nội trú, tiền khám lại; tiền mua thuốc bồi bổ sức khỏe; chi phí của bị hại và người chăm sóc trong thời gian điều trị; thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc với tổng số tiền 13.387.000đồng. Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, bị cáo chấp nhận bồi thường cho bị hại bằng 30 tháng lương tổi thiểu là 44.700.000đồng.
Tổng số tiền bị cáo chấp nhận bồi thường cho bị hại là 58.087.000đồng.
Ngoài số tiền 20.000.000đồng bị cáo nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự để khắc phục hậu quả; tại phiên tòa, bị cáo tạm gửi và xin bị hại nhận số tiền còn thiếu 38.087.000đồng tại Tòa án.
Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã tự nguyện chấp nhận các khoản yêu cầu bồi thường của bị hại nên cần chấp nhận. Riêng về bồi thường tổn thất tinh thần, bị cáo chấp nhận mức 30 tháng lương tối thiểu là đã đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 03 x 04cm; 02 miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 0,4 x 0,5cm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo luật định.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm a, i Khoản 1 Điều 134; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 12 (Mƣời hai) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 30/7/2020.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc T cho Ủy ban nhân dân xã Cẩm Thành, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người phải thi hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự; Nghị Quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho bà Biện Thị P số tiền 58.087.000đồng (Năm mươi tám triệu không trăm tám mươi bảy nghìn đồng).
Khấu trừ cho bị cáo số tiền 20.000.000đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Xuyên theo biên lại số 005919 ngày 27/4/2020 để bồi thường cho bà Biện Thị P. Số tiền bị cáo phải bồi thường tiếp là 38.087.000đồng (Ba mươi tám triệu không trăm tám mươi bảy nghìn đồng), tại phiên tòa bị cáo đã giao nộp số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2, Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 03 x 04cm;
- 02 (Hai) miếng thủy tinh màu trắng có kích thước 0,4 x 0,5cm.
(Tình trạng, đặc điểm các vật chứng được ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2020 giữa ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Xuyên và Chi cục thi hành án dân sự tỉnh huyện Cẩm Xuyên)
4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1, Khoản 3 Điều 21, Điểm a, c Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.904.000đồng án phí có giá ngạch, tổng số tiền án phí bị cáo phải chịu là 2.104.000đồng (Hai triệu một trăm linh bốn nghìn đồng).
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Cẩm Xuyên; - Chi cục THADS huyện Cẩm Xuyên; - Công an huyện Cẩm Xuyên; - THA.HS Công an huyện Cẩm Xuyên; - Sở tư pháp Hà Tĩnh; - Bị cáo, bị hại, người có QLNVLQ; - Lưu Hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dƣơng Hữu Tƣờng Nguyễn Huy Vinh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dƣơng Hữu Tƣờng Nguyễn Huy Vinh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hoàng |