vanban.org

Bản án 27/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 21/05/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/05/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn Đ.

Áp dụng: khoản 1 Điều 323 điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Võ Tấn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Tấn Đ - phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (điều 323 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 323 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HS-PT
Ngày: 21-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Bé

Bà Lê Thị Mỹ Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 34/2020/TLPT-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Võ Tấn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2020/HS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Võ Tấn Đ, sinh ngày 16 tháng 9 năm 1979, tại Quảng Ngãi.

Trú tại: thôn KL, xã Tịnh T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn C (chết) và bà Nguyễn Thị M; Vợ: Hồ Thị N; Con: Có hai con, sinh năm 2010 và 2016; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo khác là Võ Thành Đ, Võ Thành Đ1, Lê Xuân H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thành Đ1, Võ Thành Đ, Lê Xuân H là các đối tượng nghiện ma túy, để có tiền mua ma túy sử dụng, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2019 đến ngày 10/8/2019, các đối tượng này đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn các huyện NH, MĐ, BS, ĐP, TN rồi đem tài sản trộm cắp bán lại cho Võ Tấn Đ, cụ thể:

Vụ 1: Khoảng 09 giờ ngày 13/7/2019, Lê Xuân H điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn ĐD, thị trấn C, huyện NH thì nhìn thấy nhà kho khu công trình đang thi công của anh Ngô Văn H làm chủ không có người trông coi, nên H dừng xe để Đ đi vào lấy trộm 01 mô tơ của máy trộn bê tông và 01 máy cắt sắt bàn. Sau đó đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.200.000 đồng.

Ngày 10/8/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 mô tơ gắn vào máy trộn bê tông 3HP có giá trị 1.680.000 đồng; 01 máy cắt sắt bàn hiệu Maktec có giá trị 1.280.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 2.960.000 đồng.

Vụ 2: Khoảng 08 giờ một ngày không xác định giữa tháng 7/2019, Lê Xuân H điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn PM, xã HT, huyện NH thì nhìn thấy trước hè nhà anh Huỳnh Ngọc Th có để 01 máy mô tơ hiệu ROVICO màu xanh, không có người trông coi, nên H dừng xe để Đ đi vào lấy trộm mô tơ này, rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 800.000 đồng.

Ngày 21/10/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy mô tơ hiệu ROVICO màu xanh có giá trị 2.150.500 đồng.

Vụ 3: Khoảng 08 giờ ngày 04/8/2019, Lê Xuân H điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn KTN 1, xã Hành Đ, huyện NH thì nhìn thấy trước nhà chị Đỗ Thị Hồng N có để 01 máy hàn que màu cam hiệu JASIC WELDCOM của ông Phạm Văn T, không có người trông coi, nên H dừng xe để Đ đi vào lấy trộm máy hàn trên, rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.600.000 đồng.

Ngày 21/10/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy hàn que màu cam hiệu JASIC WELDCOM có giá trị 2.167.000 đồng.

Vụ 4: Khoảng 08 giờ ngày 10/7/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn TPN, xã Hành M, huyện NH thì nhìn thấy trước tiệm cửa sắt của anh Từ Ngọc D có để 01 máy hàn hiệu JASIC màu xanh và 01 máy cắt bàn loại máy PA6-GF33, không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe để Đ đi vào lấy trộm máy hàn và máy cắt bàn trên, rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.200.000 đồng.

Ngày 21/10/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy hàn hiệu JASIC màu xanh và 01 máy cắt bàn loại máy PA6-GF33 có tổng giá trị 3.967.320 đồng.

Vụ 5: Khoảng 08 giờ ngày 16/7/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn TPN, xã Hành M, huyện NH thì nhìn thấy trước nhà kho tiệm vật liệu xây dựng của anh Nguyễn Đoàn Ngọc H có để 01 máy hàn màu vàng hiệu JASIC, không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe để Đ đi vào lấy trộm máy hàn rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 500.000 đồng.

Ngày 21/10/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy hàn màu vàng hiệu JASIC có giá trị 2.113.020 đồng.

Vụ 6: Khoảng 09 giờ một ngày không xác định đầu tháng 8/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến MĐ. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc Thôn 1, xã ĐN, huyện MĐ thì nhìn thấy tiệm cửa sắt của anh Nguyễn M không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe cho Đ đi vào lấy trộm 01 máy hàn điện tử; 01 cuộn dây hàn; 01 máy khoan bê tông. Sau đó đem tất cả bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.200.000 đồng.

Ngày 12/9/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện MĐ kết luận: 01 máy hàn điện tử; 01 cuộn dây hàn; 01 máy khoan bê tông có tổng giá trị 2.290.000 đồng.

Vụ 7: Khoảng 14 giờ một ngày không xác định đầu tháng 8/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến MĐ. Khi đi đến đoạn đường Quốc lộ 1A thuộc Thôn 1, xã ĐT, huyện MĐ thì nhìn thấy tiệm vá lốp của anh Phạm Công H không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe cho Đ đi vào lấy trộm 01 máy hàn điện tử; 01 máy siết, tháo ốc xe tải. Sau đó đem tất cả bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.000.000 đồng.

Ngày 12/9/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện MĐ kết luận: 01 máy hàn điện tử; 01 máy siết, tháo ốc xe tải có tổng giá trị 1.900.000 đồng.

Vụ 8: Khoảng 09 giờ ngày 06/8/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến NH. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn PLT, xã HT, huyện NH thì nhìn thấy tiệm đá hoa cương của anh Đoàn Đình V không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe cho Đ đi vào lấy trộm 01 giỏ màu xanh, bên trong có 02 máy mài hiệu Dong Cheng màu xanh loại 1,2 tất; 04 máy mài hiệu Dong Cheng loại 1 tất. Sau đó đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.800.000 đồng.

Ngày 10/8/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 06 máy mài hiệu Dong Cheng có tổng giá trị 3.060.000 đồng.

Vụ 9: Cùng ngày 06/8/2019, sau khi lấy trộm tài sản ở Tiệm của anh Đoàn Đình V, Võ Thành Đ1 tiếp tục điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn VX 2, xã HT, huyện NH thì nhìn thấy tiệm cửa sắt của anh Ngô Văn T không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe cho Đ đi vào lấy trộm 01 máy hàn hai chức năng hiệu JASK TIG-200A màu cam và 01 máy hàn que hiệu RILAND ARC 200 màu xanh nước biển. Sau đó đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.500.000 đồng.

Ngày 10/8/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy hàn hai chức năng hiệu JASK TIG-200A màu cam và 01 máy hàn que hiệu RILAND ARC 200 màu xanh nước biển có tổng giá trị 4.620.000 đồng.

Vụ 10: Khoảng 08 giờ ngày 07/8/2019, Võ Thành Đ1 điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ đi từ thành phố Q đến huyện NH tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn PLT, xã HT, huyện NH thì nhìn thấy trước nhà anh Trần Văn Th có để 01 máy hàn que màu xanh hiệu HIGH TRONIC không có người trông coi, nên Đ1 dừng xe cho Đ đi vào lấy trộm máy hàn này rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 600.000 đồng.

Ngày 21/10/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện NH kết luận: 01 máy hàn que màu xanh hiệu HIGH TRONIC có giá trị 1.645.000 đồng.

Vụ 11: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 31/7/2019, Võ Thành Đ điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ1 đi từ thành phố Q đến huyện BS tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước cơ sở mộc của anh Nguyễn Tấn V ở Thôn 4. xã BH, huyện BS không có người trông coi, nên Đ dừng xe đi vào lấy trộm 01 phay, 01 máy mài, 01 máy cắt cầm tay đều hiệu MAKITA. Sau đó, Đ1 và Đ đem tất cả tài sản trộm cắp trên bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.200.000 đồng.

Ngày 17/9/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện BS kết luận: 01 phay hiệu MAKITA, 01 máy mài hiệu MAKITA, 01 máy cắt cầm tay hiệu MAKITA có tổng giá trị 6.000.000 đồng.

Vụ 12: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 01/8/2019, Võ Thành Đ điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ1 đi từ thành phố Q đến huyện BS tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước nhà chị Trần Thị Hoài P ở thôn XYĐ, xã Bình H, huyện BS không có người trông coi, nên Đ dừng xe đi vào nhà lấy trộm 06 cuộn dây điện CADIVI gồm 02 cuộn loại 2,5cm, 04 cuộn loại 1,5cm. Sau đó, Đ1 và Đ đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 1.500.000 đồng.

Ngày 07/9/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện BS kết luận: 06 cuộn dây điện CADIVI có tổng giá trị 2.268.000 đồng.

Vụ 13: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/8/2019, Võ Thành Đ điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 76V5-62XX chở Võ Thành Đ1 đi từ thành phố Q đến huyện BS tìm tài sản trộm cắp. Khi đi đến trước cơ sở nhôm kinh của anh Trương Công N ở Thôn 2, xã BH, huyện BS không có người trông coi, nên Đ1 đứng ngoài cảnh giới, Đ đi vào lấy trộm 01 máy cắt sắt hiệu SENG FENG rồi đem bán cho Võ Tấn Đ với giá 500.000 đồng.

Ngày 07/9/2019, Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện BS kết luận: 06 cuộn dây điện CADIVI có tổng giá trị 2.268.000 đồng.

Ngoài ra, Võ Thành Đ1 và Võ Thành Đ còn thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện BS rồi bán tài sản trộm cắp cho Võ Tấn Đ 02 lần gồm: bán 01 máy hàn điện tử và 01 máy khoan bê tông giá 1.200.000 đồng; bán 01 máy hàn giá 600.000 đồng. Võ Thành Đ cùng Lê Xuân H thực hiện 01 vụ trộm cắp tài sản và bán cho Võ Tấn Đ 01 máy hàn màu cam giá 500.000 đồng. Tuy nhiên, 03 vụ này chưa xác định được người bị hại.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2020/HS-ST ngày 14-02-2020, Toà án nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:

Tuyên bố bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Võ Tấn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 02 năm 06 tháng tù, Võ Thành Đ1 02 năm tù; Lê Xuân H 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuyên về phần dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 28/02/2020, bị cáo Võ Tấn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Tấn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Võ Tấn Đ 18 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi của bị cáo Võ Tấn Đ, thấy rằng: Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8/2019, bị cáo Võ Tấn Đ đã 13 lần mua các tài sản là máy hàn, máy cắt sắt, máy mài, dây điện… do các bị cáo Võ Thành Đ1, Võ Thành Đ, Lê Xuân H trộm cắp, với tổng giá trị tài sản định giá là 37.940.840 đồng (trong đó có 11 lần giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng). Khi mua các tài sản này, bị cáo biết rõ đây là tài sản là do các bị cáo khác trộm cắp mà có, nhưng vì ham lợi, bị cáo vẫn nhiều lần mua để bán lại cho người khác nhằm kiếm lời. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Tấn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Võ Tấn Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo kháng cáo với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” cho bị cáo; bị cáo đã tự nguyện giao nộp tất cả tài sản đã mua. Xét các lý do kháng cáo của bị cáo, thì thấy: Đối với tình tiết “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, trong vụ án này, bị cáo 13 lần thực hiện hành vi phạm tội, thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần nên không được xem là phạm tội lần đầu để áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với việc bị cáo giao nộp các tài sản đã mua cho Cơ quan điều tra là theo yêu cầu của Cơ quan điều tra để phục vụ việc giải quyết vụ án, là trách nhiệm của bị cáo chứ không được xem là tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả. Xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật và xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, nhưng không có tình tiết nào mới. Đồng thời, trọng vụ án này, bị cáo phạm tội nhiều lần, căn cứ khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về áp dụng án treo thì bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện NH.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo Võ Tấn Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Tấn Đ. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 01/2020/HS-ST ngày 14-02-2020 của Toà án nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.

Áp dụng: khoản 1 Điều 323 điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Võ Tấn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Võ Tấn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ