vanban.org

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân Sự.

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật thi hành án dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1/Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân Sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24/6/2020
(V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Phong Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Toàn

2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thái Hà –Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Mỹ Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 109/2020/TLST-HNGĐ ngày 04/3/2020 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21/5/2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 213/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08/6/2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A – sinh năm 1990

Trú tại: khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh BT.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D – sinh năm 1986

Trú tại: khu phố E, phường F, thành phố PT, tỉnh BT.

Tại phiên tòa có mặt bà A, vắng mặt ông D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bà Nguyễn Thị A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông D tự nguyện tìm hiểu, yêu thương và chung sống với nhau vào năm 2009 nhưng đến ngày 07/6/2010 mới làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường F, thành phố PT, tỉnh BT.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng chỉ hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó phát sinh mâu thuẫn về tính cách, quan điểm sống, ông D không quan tâm giúp đỡ bà trong cuộc sống nên hai người thường gây gổ, xúc phạm nhau gây mất trật tự tại địa phương, hai người đã sống ly thân được khoảng 01 năm, mạnh ai nấy sống. Nay bà nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể kéo dài cuộc sống chung nên yêu cầu được ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà và ông D có 02 con là Nguyễn Anh G, sinh ngày 18/11/2009 và Nguyễn Anh Gia H, sinh ngày 02/02/2017. Từ khi ly thân bà là người nuôi con, nay bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi các con và yêu cầu ông D cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông không hợp tác, không làm bản tự khai, không tham gia phiên họp và hòa giải, không tham gia phiên tòa. Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng để xét xử vắng mặt ông.

Vụ án không tiến hành hòa giải được.

* Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự (nguyên đơn) đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Văn D cư trú tại khu phố E, phường F, thành phố PT, tỉnh BT. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố PT.

Ông D không tham gia phiên tòa. Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông D.

Về yêu cầu của nguyên đơn:

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà A Hội đồng xét xử nhận thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông D là hợp pháp, ông bà đã được Uỷ ban nhân dân phường F, thành phố PT, tỉnh BT cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01/2009 ngày 07/6/2010.

Bà A cho rằng, trong quá trình chung sống bà và ông D thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến gây gổ, xúc phạm nhau, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và đã sống ly thân được khoảng 01 năm. Tòa án có xác minh tại chính quyền địa phương nơi bà A và ông D cư trú cho thấy, bà A và ông D thường cãi vã, xúc phạm nhau gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông D đến Tòa hòa giải nhưng ông D không hợp tác, không đến tòa, chứng tỏ ông D bỏ mặc, không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà A, không còn thiết tha xây dựng, vun vén hạnh phúc gia đình. Từ những nhận định này, đủ cơ sở khẳng định mâu thuẫn giữa bà A và ông D là có thật, đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.

Về con chung: Bà A và ông D có 02 con là Nguyễn Anh G, sinh ngày 18/11/2009 và Nguyễn Anh Gia H, sinh ngày 02/02/2017. Từ khi ly thân đến nay, bà A là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, nên để đảm bảo cuộc sống của các cháu được ổn định cần giao 02 cháu cho bà A được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đúng với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng, bà A yêu cầu ông D cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình “ Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Ông D không trực tiếp nuôi các con nên phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con 1.000.000đồng/tháng cho bà A là đúng pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà A và ông D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1/Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 262 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ Luật Dân Sự.

Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Luật thi hành án dân sự.

2/ Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị A, bà A được ly hôn ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị A được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng hai con là Nguyễn Anh G(giới tính nam), sinh ngày 18/11/2009 và Nguyễn Anh Gia H(giới tính nam), sinh ngày 02/02/2017. Buộc ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi mỗi con 1.000.000đồng/tháng(một triệu)(tổng cộng 2.000.000 đồng/tháng/02con) cho bà A, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các con tròn 18 tuổi và có khả năng lao động.

Sau khi ly hôn, bà A và ông D vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật(đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án(đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về án phí: Ông Nguyễn Văn D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị A phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0005512 ngày 04/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố PT. Bà A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bà A có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ