vanban.org

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị PTTT đối với anh BNMD.

[1] Về hôn nhân: Chị PTTT được ly hôn với anh BNMD. [2] Về con chung: Có 01 con chung với nhau là: BNNL, sinh ngày: 03/10/2019. Hiện nay đang sống cùng với chị T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị PTTT yêu cầu ly hôn anh BNMD"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị PTTT đối với anh BNMD.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUYÊN MỘC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 05/5/2020.
V/v: “ Yêu cầu ly hôn,
tranh chấp nuôi con ”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUYÊN MỘC – TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Tuấn.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Phùng Thị Khánh Vân.

Ông Nguyễn Ngọc Khanh.

Thư ký phiên tòa: bà Danh Thị Ngọc Lệ – Thư ký tòa án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện XM tham gia phiên tòa: ông Đỗ Đình Luyến – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện XM, xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân – gia đình thụ lý số: 699/2019/TLST – HNGĐ ngày: 19/12/2019, về việc: “ Yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con ”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày: 02/3/2020, Quyết định hoãn phiên toà số: 22/2020/QĐST-HNGĐ ngày: 20/3/2020, thông báo hoãn phiên toà số : 23/TB-TA ngày 09/4/2020, thông báo mở lại phiên toà số: 28/2020/TBMLPT ngày: 17/4/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: PTTT, sinh năm: 1999 – ( Có mặt ).

Hộ khẩu thường trú: ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Chỗ ở hiện nay : ấp PT, xã PT, huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Bị đơn: BNMD, sinh năm: 1997 – ( Vắng mặt ).

Hộ khẩu thường trú: ấp NT, xã XM, huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 01/12/2019, bản khai, biên bản hoà giải trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa. Nguyên đơn chị PTTT trình bày: Chị T kết hôn với anh D vào tháng 5/2019, có tiến hành đăng ký kết hôn tại UBND xã PT, huyện LĐ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không có ai mai mối, ép buộc.

Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được đến tháng 6/2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh D không cùng với chị T chăm sóc con. Mặt khác, anh D và gia đình anh D coi thường nên thường chửi bới, xúc phạm chị T cũng như gia đình chị T.

Vì vậy, cũng tháng 11/2019 chị T bỏ về nhà bố mẹ ruột ở xã PT, huyện LĐ sinh sống nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế.

Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung với nhau là: BNNL, sinh ngày: 03/10/2019. Hiện nay đang sống cùng với chị T, nếu ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L, yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000Đ ( Hai triệu ).

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Tại phiên toà hôm nay chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh D, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung : không có.

Anh BNMD đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt.

Tại phiên toà hôm nay anh D vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập hợp lệ.

Quan điểm của vị đại diện VKS tham gia phiên toà: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và HĐXX: thẩm phán và HĐXX đã tuân thủ đúng theo những quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không chấp hành theo sự triệu tập của Toà án dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần là chưa chấp hành pháp luật, chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu của đương sự: Yêu cầu của chị T là có căn cứ, đề nghị HĐXX xem xét quyết định.

NHẬN XÉT CỦA TOÀ ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: chị PTTT khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho chị T ly hôn với anh BNMD và yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đây là tranh chấp về yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo quy định tại khoản 1 điều 28 và điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện XM, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Anh D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh D.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa chị T và anh D là hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định ( Bút lục số: 03 ) nên là hôn nhân hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Theo chị T trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh D không cùng với chị T chăm sóc con. Mặt khác, anh D và gia đình anh D coi thường nên thường chửi bới, xúc phạm chị T cũng như gia đình chị T. Cũng trong tháng 6/2019 chị T bỏ về nhà bố mẹ ruột ở xã PT, huyện LĐ sinh sống nên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ đó cho đến nay, hai bên không còn quan hệ gì với nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế. Điều này cũng phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương là: “ … Chị T không sống chung nhà với anh D …” ( Bút lục số: 15 ). Điều đó chứng tỏ giữa chị T và anh D không còn yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Trên thực tế thì anh chị không còn duy trì cuộc sống hôn nhân với nhau nữa. Do đó, việc chị T yêu cầu ly hôn với anh D là có căn cứ, nên chấp nhận yêu cầu của chị T. Về hôn nhân chị T được ly hôn với anh D.

[3] Về con chung: Có 01 con chung với nhau là: BNNL, sinh ngày: 03/10/2019. Hiện nay đang sống cùng với chị T, nếu ly hôn chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu L.

Xét thấy, từ trước đến nay chị T nuôi dưỡng cháu L, mặt khác cháu L chưa đủ 36 tháng tuổi cần sự nuôi dưỡng, chăm sóc của người mẹ. Do đó, giao cháu L cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu L cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Trước đây, chị T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhưng tại phiên toà chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nữa, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị T trình bày không có, nhưng anh D không có mặt nên không kiểm chứng được lời trình bày của chị T có đúng hay không. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Do là nguyên đơn nên chị T phải chịu án phí theo quy định.

Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo theo luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 56, 81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của chị PTTT đối với anh BNMD.

[1] Về hôn nhân: Chị PTTT được ly hôn với anh BNMD.

[2] Về con chung: Có 01 con chung với nhau là: BNNL, sinh ngày: 03/10/2019. Hiện nay đang sống cùng với chị T.

Chị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu L và tự nguyện không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.

Anh D được quyền lui tới thăm và chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

Vì lợi ích của con chung trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về án phí: chị T phải nộp 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) án phí HNGĐST nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000Đ ( Ba trăm ngàn ) mà chị T đã nộp theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0003864 ngày 19/12/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện XM. chị T đã nộp đủ án phí.

[5] Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( những người vắng mặt tại phiên toà thời hạn trên được tính từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án ) để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ