vanban.org

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Xử ly hôn giữa anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S.

2/ Về án phí: Anh Trần Xuân T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA2342 ngày 25/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Xuân T - Nguyễn Thị S"
  • Tòa quyết gì? 1/ Xử ly hôn giữa anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST
Ngày 07/8/2020
“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thế Anh.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đức Bính và ông Vũ Xuân Dự

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ninh, thư ký Tòa án nhân dân huyện K - tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Doan, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số 82/2020/TLST - HNGĐ ngày 25 tháng 5 năm 2020 về “ Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 7 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trần Xuân T, sinh năm 1984; ĐKHKTT và trú tại: xóm 11, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình;

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1988; ĐKHKTT: xóm 11, xã K, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở hiện nay: xóm 6, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn anh Trần Xuân T trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị S kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND xã K năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xóm 11, xã K. Vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận sau đó phát sinh mâu thuẫn. Theo anh T thì nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, lối sống và một phần là không có con chung; vợ chồng đã tìm mọi cách khắc phục nhưng không có kết quả nên năm 2015 chị S bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xóm 6, xã H sống ly thân với anh. Anh đã nhiều lần đến khuyên giải để vợ chồng về chung sống hòa thuận nhưng chị S không quay về. Vì vậy từ đó đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân; hiện không ai quan tâm đến ai nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về chung sống với nhau được nữa. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với chị S để chị ổn định cuộc sống.

Về con chung và tài sản chung: anh T xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

Bị đơn chị Nguyễn Thị S trong văn bản trình bày ý kiến ngày 01/6/2020 trình bày: Chị xác nhận về điều kiện, thời gian kết hôn như anh T trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị xảy ra nhiều mâu thuẫn mà nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, đồng thời không có con chung; do vậy đến năm 2015 anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay anh T yêu cầu ly hôn với chị, chị nhất trí ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết để chị ổn định cuộc sống. Về con chung và tài sản chung chị S xác định chị và anh T không có con chung, không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do công việc nên chị S không tham gia trực tiếp giải quyết vụ việc tại tòa án được nên chị S đã làm đơn xin giải và xét xử vắng mặt chị.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về tố tụng: nguyên đơn, bị đơn và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về hướng giải quyết vụ kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật HNGĐ; Điều 147, 228 BLTTDS; Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14: Xử ly hôn giữa anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S; anh T phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Trần Xuân T khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn với chị Nguyễn Thị S, cư trú tại xóm 6, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình; căn cứ quy định tại điều 28 và 39 BLTTDS vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện K. Cả nguyên đơn, bị đơn đều được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ và cả hai bên đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 3 Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND K, là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ; sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận một thời gian thì mới phát sinh mâu thuẫn.

Cả anh Trường và chị S đều xác định nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp nhau, bất đồng mọi mặt trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung cũng như không thể có con chung nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay.

Xác minh tình trạng hôn nhân của anh T và chị S tại UBND xã K là nơi anh chị cư trú; thì chính quyền địa phương xác nhận anh T và chị S có xảy ra mâu thuẫn, chị S đã bỏ nhà đi, không còn chung sống với anh T nữa.

Như vậy có đủ căn cứ xác định giữa anh T và chị S trong quá trình chung sống đã xảy ra mâu thuẫn do bất đồng về tính cách quan điểm sống và đồng thời không có con chung; Mặc dù vợ chồng và gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn không khắc phục được, dẫn đến vợ chồng đã có thời gian dài sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống chung nữa; cả anh T, chị S đều xác định không thể quay về chung sống với nhau được nữa.

Từ những căn cứ đó đã có đủ cơ sở xác định tình trạng hôn nhân của anh T, chị S hiện nay đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì cuộc sống chung; căn cứ quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình, yêu cầu của anh T giải quyết ly hôn chị S là có căn cứ được chấp nhận.

Về quan hệ con chung và tài sản chung: Anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S đều xác định không có con chung, không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Căn cứ quy định tại điều 147 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 buộc anh T phải nộp toàn bộ án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật HNGĐ; Điều 147, 228 BLTTDS và Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Xử ly hôn giữa anh Trần Xuân T và chị Nguyễn Thị S.

2/ Về án phí: Anh Trần Xuân T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA2342 ngày 25/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Cỡ chữ