vanban.org

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G được ly hôn.

Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T là giao cháu Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 13/11/2016 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh G có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị T và anh G có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ PHƯƠNG T - TRẦN VĂN G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 04/8/2020
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Hà Minh Hằng.

2- Bà Nguyễn Ngọc Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đen, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 97/2020/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 4 năm 2020 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 31/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1995 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Trần Văn G, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/02/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương T trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị T và anh Trần Văn G kết hôn với nhau vào năm 2016, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 29/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.Vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2019 âm lịch thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh G không quan tâm đến vợ con, như trong lúc con đau ốm và từ đó anh G bỏ nhà ra đi cho đến nay, hiện nay chị cũng không biết anh G đi đâu làm gì. Vì vậy, chị xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt nên chị yêu cầu xin được ly hôn với anh Trần Văn G.

Về con chung: Có 01 người con tên Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 13/11/2016, từ khi ly thân cho đến nay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu, cuộc sống của cháu vẫn ổn định và bản thân chị cũng có đủ điều kiện nuôi con. Nay chị yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trần Văn G Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh G vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị T.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Phương T vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như đã nêu trên.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Trần Văn G vắng mặt.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T, xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G được ly hôn.

Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T là giao cháu Trần Thị Ngọc H cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và phần nợ chung: Chị Nguyễn Thị Phương T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, nuôi con và bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Trần Văn G được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Trần Văn G.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G kết hôn với nhau vào năm 2016 và có đăng ký kết hôn ngày 29/11/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 151 nên hôn nhân của chị T và anh G là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2016 thì phát sinh ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cự cải nhau, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau cho đến nay (thể hiện tại biên bản xác minh ngày 17/6/2020 BL 40). Hơn nữa từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay bản thân anh chị và gia đình cha mẹ hai bên cũng không tự hòa giải được.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G có 01 người con tên Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 13/11/2016, chị T yêu cầu xin được nuôi con và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, yêu cầu của chị T là có cơ sở. Bởi vì, từ khi ly thân cho đến nay chị T chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H, cuộc sống của cháu H vẫn ổn định và bản thân chị có điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận yêu cầu của chị T, là giao cháu Trần Thị Ngọc H cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh G không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản và nợ chung: Chị T thừa nhận không có và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000đ. Nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nêu trên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, đểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Phương T và anh Trần Văn G được ly hôn.

2. Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Phương T là giao cháu Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 13/11/2016 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh G không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh G có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị T và anh G có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Phương T thừa nhận không có và không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số 0008537, ngày 29/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị T có mặt biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/8/2020). Đối với anh G vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ