vanban.org

Bản án 27/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 23/07/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHTMCP SGTT - Trần Vinh Q"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 27/2020/DS-ST
Ngày 23 tháng 7 năm 2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:

Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thuận

Bà Lê Thị Nhớ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 23 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 01 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2020/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Trụ sở: 266-268 N, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Phan Minh N, CV Quản lý nợ - Phòng Kiểm soát rủi ro, Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Đà Nẵng; Địa chỉ: Số 130 - 132 B, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, (theo giấy ủy quyền số 311/2020/UQ-CNĐN ngày 29.02.2020 của Giám đốc Ngân hàng TMCP S - Chi nhánh Đà Nẵng); Có mặt. 2. Bị đơn: Ông Trần Vinh Q sinh năm 1975. Nơi cư trú: K142/42 đường Đ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, lời trình bày trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S ông Lê Phan Minh N trình bày: Ngày 09.0./2018, ông Trần Vinh Q có ký với Chi nhánh Ngân hàng TMCP S tại thành phố Đà Nẵng (gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Q, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với mức hạn sử dụng là 25.000.000đ với mục đích là tiêu dùng cá nhân, thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm. Sau khi cấp thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện giao dịch với số tiền: 22.247.500đ. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10.210.000đ (gốc và lãi). Do ông Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01.05.2019 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ (gốc và lãi trong hạn) còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 16.7.2020, ông Trần Vinh Q còn nợ ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc: 20.274.304đ; Nợ lãi quá hạn: 11.226.949đ, lãi tính đến ngày 16.7.2020; Tổng cộng: 31.501.253 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp và yêu cầu ông Q có trách nhiệm thanh toán ngay các khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Q trả nợ, tuy nhiên ông Q vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký. Vì vậy, Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Vinh Q phải trả số tiền còn nợ là 31.501.253 đồng, trong đó nợ gốc là 20.274.304 đồng và nợ lãi là 11.226.949đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện vụ án Dân sự về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng" đối với ông Trần Vinh Q, nơi cư trú: K142/42 đường Đ, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Ngày 14.01.2020 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Trần Vinh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. [2] Về nội dung tranh chấp: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Lê Phan Minh N cho rằng ngày 09.01.2018 ngân hàng TMCP S đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức tối đa là 25.000.000đ để cho tiêu dùng cá nhân. Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên kể từ ngày 01.5.2019 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ chuyển toàn bộ dư nợ gốc và lãi sang nợ quá hạn nên yêu cầu Tòa án buộc ông Q thanh toán tổng số tiền nợ gốc và tiền lãi là 30.797.209đ. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa đã thể hiện: Ngày 09.01.2018 ông Trần Vinh Q có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000đ (với mục đích tiêu dùng cá nhân), lãi suất 2,15/tháng trên số tiền giao dịch, thời hạn sử dụng thẻ là 03 năm. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Q đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 22.247.500đ, ông Q đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 10.210.000đ (gốc và lãi). Do ông Q vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, ngày 01.5.2019 Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với Điều 2 và Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ của hợp đồng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Q phải có nghĩa vụ trả số tiền là 31.501.253 đồng, trong đó nợ gốc là 20.274.304đ và nợ lãi quá hạn là 11.226.949đ, lãi tính đến ngày 16.7.2020 là có căn cứ, phù hợp với Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự và Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.575.562đ (31.501.253 x 5%), theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 (V/v quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án). Tuyên xử : 1. Buộc ông Trần Vinh Q phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 31.501.253đ (ba mươi mốt triệu, năm trăm lẻ một ngàn, hai trăm năm mươi ba đồng), trong đó, tiền gốc là 20.274.304đ và tiền lãi quá hạn là 11.226.949đ. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. 2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Vinh Q phải chịu 1.575.562đ (một triệu, năm trăm bảy mươi lăm ngàn, năm trăm sáu mươi hai đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S 590.000đ (năm trăm chín mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 001702, ngày 07.01.2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. 3. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử sơ thẩm tại nơi cư trú. 4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu câù thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ