- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Trần Thị L “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” bà Võ Thị Kiều T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L;
- Căn cứ chính? Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2020/DS - PT Ngày: 17 - 02 - 2020 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thu
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Tuấn Khải
Ông Trần Tấn Quốc
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 395/2019/TLPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 68/2019/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 39/2020/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1952;
Địa chỉ: Số nhà 59/2, ấp 2, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
1. Bà Võ Thị Kiều T, sinh năm 1974;
2. Ông Nguyễn Kim H, sinh năm 1967;
Cùng địa chỉ: Số nhà 231/1, ấp 1, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
- Người làm chứng:
1. Bà Đinh Thị T, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số nhà 112/1, ấp 1, xã Vĩnh Công, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
2. Bà Phan Thị L1, sinh năm 1942;
Địa chỉ: Số nhà 59/2, ấp 2, xã V, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bà Trần Thị L – Nguyên đơn.
(Bà L, bà T, bà T1 và bà L1 có mặt; ông H vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02 tháng 5 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Vào ngày 30/01/2017(al), bà có tham gia một phần hụi do bà T làm chủ hụi, hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi có 25 phần, bà đã đóng hụi đến tháng 8/2018(al) được 20 kỳ hụi với số tiền 13.270.000 đồng, đến kỳ thứ 21 thì bà T bể hụi nên bà không đóng nữa.
Khi tham gia hụi, bà T có đưa cho bà danh sách các hụi viên nhưng bà không biết những người này và có một số người không có tham gia hụi như bà T ghi trong danh sách, mỗi tháng bà T có gọi điện nói số tiền hụi viên bỏ hụi và số tiền đóng hụi. Việc đóng hụi cho bà T không có giấy tờ gì.
Tại biên bản hòa giải ngày 04/01/2019 tại Ủy ban nhân dân xã V chồng bà T là ông H đã thống nhất sẽ thanh toán cho bà số tiền hụi là 20.000.000 đồng chậm nhất đến ngày 04/3/2019 nhưng cho đến nay ông H và bà T vẫn không trả số tiền hụi này cho bà.
Nay bà yêu cầu bà T và ông H phải trả lại cho bà số tiền hụi đã đóng là 13.270.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn:
- Bà Võ Thị Kiều T trình bày:
Bà không đồng ý lời trình bày của bà L. Bà thừa nhận vào tháng 01 năm 2017(al), bà L có tham gia một phần hụi do bà làm chủ hụi, hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi có 25 phần, bà L đóng được 06 kỳ hụi với số tiền 4.195.000 đồng. Từ tháng 7/2017, bể hụi nên bà L không tiếp tục đóng hụi nữa.
Bà chỉ đồng ý trả cho bà L số tiền hụi là 4.195.000 đồng nhưng hiện nay bà đang rất khó khăn nên hẹn đến tháng 4/2020 bà sẽ trả hết số tiền này.
- Ông Nguyễn Kim H trình bày: Ông H cho rằng không có tham gia hụi, việc tranh chấp hụi chỉ có bà L và bà T giải quyết.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 68/2019/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H về việc tranh chấp hụi.
Buộc bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị L số tiền 4.195.000 đồng (Bốn triệu, một trăm chín mươi lăm ngàn đồng).
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H với số tiền hụi 9.075.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 19/11/2019, nguyên đơn bà Trần Thị L kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu xét xử phúc thẩm theo hướng buộc bà T và ông H trả cho bà số tiền 13.270.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không rút đơn kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm:
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật quy định và hợp lệ, đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Các đương sự thống nhất hụi có 25 phần, hụi 1.000.000 đồng/tháng, bà T là chủ hụi. Bà L cho rằng bà đã đóng hụi được 20 kỳ; bà T cho rằng bà L đóng hụi 06 kỳ. Bà T là chủ hụi nhưng không cung cấp sổ hụi, các hụi viên xác định bà L có đóng hụi 20 kỳ, chồng bà T thống nhất trả cho bà L 22.000.000 đồng. Do đó, kháng cáo của bà L là có căn cứ chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận và nghị án, xét thấy:
Bị đơn ông Nguyễn Kim H có đơn xin xét xử vắng mặt tại Tòa án cấp phúc thẩm nên Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự trình bày thống nhất, bà L có tham gia hụi do bà T làm chủ hụi, hụi 1.000.000 đồng/tháng, hụi có 25 thành viên tham gia 25 phần, mở ngày 30/01/2017(al), nhưng không thống nhất số tiền hụi đã góp. Bà L xác định số tiền bà đã góp hụi sống cho bà T được 20 kỳ là 13.270.000 đồng; bà T xác định bà L chỉ góp được 06 kỳ là 4.195.000 đồng nên chỉ đồng ý trả lại cho bà L 4.195.000 đồng.
Thấy rằng, bà L có tham gia hụi do bà T làm chủ hụi. Khi tham gia hụi, hai bên không có giấy tờ gì. Việc góp hụi mỗi tháng, bà L và bà T tự viết sổ theo dõi, không có ký nhận giữa chủ hụi và các hụi viên. Nhưng bà T là chủ hụi, phải có nghĩa vụ lập và giữ sổ hụi và các giấy tờ liên quan đến hụi, thu phần hụi của các thành viên, giao các phần hụi cho thành viên được lĩnh hụi, cho các thành viên xem sổ hụi và cung cấp các thông tin liên quan đến hụi khi có yêu cầu nhưng bà T không thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường là lỗi của bà T. Bà Đinh Thị T1 và bà Phan Thị L1 là những hụi viên cùng tham gia dây hụi này đều trình bày, các bà và bà L có góp hụi cho bà T 20 kỳ, từ ngày 30/01/2017 đến 30/8/2018, mỗi người góp hụi sống tổng cộng là 13.270.000 đồng. Theo biên bản hòa giải ngày 04/01/2019, ông Nguyễn Kim H (chồng của bà T) đồng ý trả lại cho các hụi viên trong đó có bà L là 22.000.000 đồng chậm nhất là ngày 04/3/2019.
Do đó, bà L yêu cầu bà T trả lại số tiền 13.270.000 đồng đã góp do bể hụi là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L, buộc bà T và ông H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà L số tiền 4.195.000 đồng theo sự thừa nhận của bà T là chưa xem xét toàn diện các chứng cứ của vụ án. Cần chấp nhận kháng cáo của bà L, sửa một phần bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, buộc bà T và ông H có trách nhiệm liên đới trả cho bà L số tiền hụi đã góp là 13.270.000 đồng. Bà L không có yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận đơn kháng cáo của bà L là có căn cứ.
Về án phí dân sự sơ thẩm
Bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H phải liên đới chịu 663.500 đồng.
Về án phí dân sự phúc thẩm
Do sửa một phần bản án sơ thẩm nên bà L kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị L;
Sửa một phần bản án sơ thẩm số 68/2019/DS-ST ngày 08 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành;
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 288, 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27, 30, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ các điều 15, 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.
Căn cứ khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L đối với bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Buộc bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H có trách nhiệm liên đới trả cho bà Trần Thị L số tiền góp hụi 13.270.000 đồng (Mười ba triệu, hai trăm bảy mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Võ Thị Kiều T và ông Nguyễn Kim H phải liên đới chịu 663.500 đồng.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm
Bà Trần Thị L không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Tp Hồ Chí Minh; - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Châu Thành; - Chi cục THADS huyện Châu Thành; - Các đương sự; - Lưu: HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thu |