vanban.org

Bản án 27/2020/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Phước Tuyên án 11/03/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu háng cáo của ị đơn à Ngô Thị M.

Sửa toàn ộ bản án dân s sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Ph ớc. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D về việc yêu cầu bị đơn à Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M phải thanh toán số tiền nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Phúc thẩm — đang xem Bản án 27/2020/DS-PT Tuyên án 11/03/2020
Phúc thẩm Bản án 81/2022/DS-PT Tuyên án 31/08/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Kim D - Ngô Minh Ch"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu háng cáo của ị đơn à Ngô Thị M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật tố tụng dân s; Điều 309 Bộ luật tố tụng dân s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2020/DS-PT
Ngày: 11-3-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm ph n - h t a phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Nga

- Các Thẩm ph n:

Bà Đinh Thị Quý Chi

Bà Lê Hồng Hạnh

- Thư ký phiên t a: Bà B i Thị Duy n -Th ý T a án nhân dân tỉnh Bình Ph ớc.

- Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04/3/2020 và ngày 11/3/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Ph ớc xét xử ph c thẩm công hai vụ án dân s ph c thẩm thụ lý số: 147/2019/TLPT-DS ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quy t định đ a vụ án ra xét xử ph c thẩm số: 166/2019/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2019, giữa các đ ơng s :

*Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1961 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ 1, khu phố Th, P. T, TX. Đ, tỉnh Bình Ph ớc.

*Bị đơn:

+ Bà Ngô Minh Ch, sinh năm 1976 (có mặt) Địa chỉ: Số 746, P, ph ờng T, thành phố Đ, tỉnh Bình Ph ớc.

+ Bà Ngô Thị M, sinh năm 1984 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 6, xã M, huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

Ng ời đại diện theo ủy quyền của bà M: Ông Vũ Minh T, sinh năm 1992 (có mặt) Địa chỉ: Đội 2, xã Th, huyện Th, thành phố Hà Nội.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Vũ Văn Th, sinh năm 1983 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

+ Ông Tạ Văn B, sinh năm 1973 (vắng mặt) Địa chỉ: Số 746, Phú Riềng Đỏ, ph ờng T, thành phố Đ, tỉnh Bình Ph ớc.

+ Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Ng ời đại diện theo ủy quyền của ông Thạnh: Bà Nguyễn Thị Kim D (có mặt). C ng địa chỉ: Tổ 1, khu phố Th, P. T, TX. Đ, tỉnh Bình Ph ớc.

* Ng ời háng cáo: Bị đơn à Ngô Thị M

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D trình bày:

Vào ngày 09/7/2009, bà Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M có vay bà số tiền 200.000.000 đồng. Riêng bà Ngô Minh Ch ngày 05/02/2010 có vay bà số tiền 250.000.000 đồng, hai bên có vi t giấy nợ bà M và bà Ch có ký tên. Bà khởi kiện yêu cầu bà M và bà Ch phải trả bà số tiền 450.000.000 đồng.

Tại đơn thay đổi, rút một phần yêu cầu khởi kiện ngày 07/11/2017 bà Nguyễn Thị Kim D rút một phần yêu cầu khởi kiện trong đơn hởi kiện ngày 26/9/2017 đối với yêu cầu bà Ch phải trả cho bà số tiền 250.000.000 đồng. Số tiền này bà cho bà Ch vay riêng nên bà sẽ khởi kiện bà Ch tại Tòa án nhân dân thành phố Đ sau. Nay bà chỉ yêu cầu Tòa án nhân dân huyện B giải quy t buộc bà Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M phải liên đới trả cho bà số tiền 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Bị đơn bà Ngô Thị M trình bày:

Khoảng thời gian năm 2008, à có công tác tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Bình Ph ớc. Đ n năm 2009 thì à nghỉ làm việc tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Bình Ph ớc. Bà Ngô Minh Ch là chị ruột của bà M, bà Nguyễn Thị Kim D làm cùng với bà. Vào ngày 09/7/2009 thì bà Ngô Minh Ch có vay của bà Nguyễn Thị Kim D số tiền là 200.000.000 đồng. Giấy vay tiền này là do bà Ch vi t. Bà và bà Ch có ký tên trong giấy vay tiền ngày 09/7/2009 này. Bà không vay tiền của bà D, số tiền 200.000.000 đồng này là do bà Ch vay bà D. Bà ký tên trong giấy vay tiền vì bà D yêu cầu phải có ng ời thứ hai ký tên trong giấy vay tiền thì mới cho vay tiền. Vì vậy, bà Ch nói bà ký tên trong giấy vay tiền này cho bà Ch để bà Ch vay tiền của bà D nên bà mới ký tên trong giấy vay tiền. Giấy vay tiền ngày 09/7/2009 đ ợc vi t tại Bệnh viện đa hoa tỉnh Bình Ph ớc, do bà Ch vi t. Khi ký tên trong giấy vay tiền này chỉ có 03 ng ời bi t gồm bà, bà Ch và bà D. Và bà M cũng hông đọc lại nội dung. Th c t bà không vay số tiền nào của bà D. Việc giao nhận số tiền vay 200.000.000 đồng là giữa bà D với bà Ch, bà không bi t gì về việc này. Bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện B làm việc lấy lời khai bà Ch để bà Ch xác định số tiền này là do bà Ch vay hay bà vay, bà Ch đã trả tiền cho bà D ch a, trả bao nhiêu và ý ki n của bà Ch hiện nay nh th nào.

Tại Biên bản hòa giải ngày 30/3/2017 của UBND xã M à có trình ày “tôi và chị tôi là bà Ngô Minh Ch có vay của bà Nguyễn Thị Kim D số tiền là 200.000.000 đồng nh ng số tiền trên bà Ngô Minh Ch đã đại diện trả h t cho bà D có giấy chuyển tiền cho bà D và giấy nhận tiền của bà D”. Lý do tại UBND xã à trình ày nh vậy vì tờ giấy vay tiền có ghi nội dung thể hiện bà và bà Ch cùng vay nên bà mới trình ày nh vậy. Hiện nay tại T a án thì à xác định số tiền này do bà Ch vay bà D chứ bà không vay tiền bà D. Các giấy tờ liên quan đ n việc vay tiền, trả tiền, giấy chuyển tiền cho bà D do bà Ch giữ, bà không giữ giấy tờ gì. Bà không cung cấp tài liệu chứng gì cho Tòa án. Nay tr ớc yêu cầu khởi kiện của bà D thì à đề nghị bà D chuyển đơn về Tòa án thị xã Đồng Xoài giải quy t, hi đó bà Ch sẽ cung cấp và xác nhận việc vay và trả tiền cho bà D. Bà không vay tiền bà D nên bà không trả tiền cho bà D.

- Bị đơn à Ngô Minh Ch và ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tạ Văn B đã đ ợc Tòa án cấp sơ thẩm th c hiện tống đạt niêm y t các văn ản tố tụng theo quy định của pháp luật nh ng vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quy t vụ án.

Tại biên bản lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn Th trình bày: Ông với bà Ngô Thị M t nguyện chung sống với nhau từ năm 2010, có đăng ý t hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Đ, tỉnh Bình Ph ớc. Do đó, việc vay m ợn tiền giữa bà D, bà Ch và bà M thì ông không bi t gì. Việc bà Ngô Thị M có vay tiền bà D hay không thì ông không bi t. S việc vay m ợn tiền vào năm 2009 giữa bà D, bà Ch và bà M xảy ra tr ớc khi ông chung sống và k t hôn với bà M. Do đó,ông hông liên quan gì đ n vụ án này. Sau khi ông với bà M k t hôn thì ông với bà M làm ăn, chi phí sinh hoạt hàng ngày, phát triển kinh t gia đình thì ông với bà M sử dụng tiền l ơng của vợ chồng để trang trải cuộc sống, ông không bi t gì về số tiền vay m ợn giữa bà Ch, bà M và bà D. Ông hông liên quan gì đ n vụ án này. Ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này. Ông không tham gia tố tụng gì trong vụ án này, ông xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quy t vụ án vì ông không liên quan gì.

- Tại biên bản lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Th trình bày: Số tiền mà bà D vợ ông cho bà Ch và bà M vay thì ông không bi t gì về số tiền này, số tiền này là tiền riêng của bà D hông liên quan gì đ n ông, ông không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án này. Vì vậy, ông xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quy t vụ án cũng nh tại các phiên tòa xét xử của Tòa án các cấp. Mọi vấn đề liên quan trong vụ án ông ủy quyền cho bà D và ông hoàn toàn đồng ý với ý ki n của vợ ông là bà Nguyễn Thị Kim D.

Tại bản n dân sự sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 c a T a n nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, quy t định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D. Buộc bà Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Kim D số tiền 200.000.000 đồng ( Hai trăm triệu đồng).

Đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 250.000.000 đồng của nguyên đơn bà D đối với bị đơn bà Ch. Đ ơng s có quyền khởi kiện lại vụ án đối với yêu cầu đã r t theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra, Bản án dân s sơ thẩm c n tuyên về phần án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền háng cáo của các đ ơng s .

Ngày 17/4/2019 ị đơn bà Ngô Thị M có đơn háng cáo đề nghị T a án cấp ph c thẩm hủy toàn ộ Bản án dân s sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 của T a án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

Tại phiên tòa ph c thẩm đại diện theo ủy quyền của ị đơn bà Ngô Thị M thay đổi yêu cầu háng cáo. Đề nghị HĐXX sửa ản án theo h ớng hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D.

Bị đơn à Ngô Minh Ch hông đồng ý với yêu cầu hởi iện của nguyên đơn và cho rằng đã trả cho bà D đ ợc thể hiện qua các phi u chi bà Ch nộp tại phiên tòa T a án cấp ph c thẩm. Bà Ch đề nghị HĐXX hông chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn.

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu hởi iện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phát biểu ý ki n.

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Th ý và các đ ơng s đã tuân thủ đ ng các quy định của Bộ luật tố tụng dân s năm 2015.

- Về đ ờng lối giải quy t vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân s năm 2015, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn à Ngô Thị M. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D. Sửa toàn bộ bản án dân s sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 của T a án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã đ ợc xem xét tại phiên tòa, k t quả tranh tụng tại phiên tòa.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Ngô Thị M, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên t a sơ thẩm và tại phiên t a ph c thẩm cả nguyên đơn và ị đơn đều xác nhận ngày 09/7/2009 bà Ch có vay của bà D số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), giấy vay tiền do bà Ch vi t, bà M và bà Ch cùng ký tên trong giấy vay tiền này. Mặc dù bà M cho rằng khi ký giấy vay tiền thì bà M không đ ợc nhận tiền từ bà D và không sử dụng số tiền này nh ng bà M thừa nhận c ng có nghĩa vụ liên đới với bà Ch thanh toán cho bà D số tiền trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn à Ngô Minh Ch cho rằng à đã trả tiền cho bà D nh ng số tiền cụ thể bao nhiêu bà Ch không nắm đ ợc, bà Ch có cung cấp cho HĐXX các phi u chi và sổ giao nhận tiền có chữ ký nhận tiền của bà D thể hiện việc bà Ch đã trả tiền cho bà D làm nhiều lần từ thời điểm năm 2009 đ n năm 2016. Tổng số tiền đã trả cho bà D thể hiện qua các phi u chi và sổ giao nhận tiền là 276.300.000 đồng (Hai trăm ảy m ơi sáu triệu a trăm nghìn đồng). Bị đơn bà Ch cho rằng đã trả cho bà D đủ số tiền đã vay và tiền lãi do các ên đã thỏa thuận. Phía nguyên đơn bà D cho rằng các phi u chi thể hiện bà D nhận tiền của bà Ch là của khoản tiền vay 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) chứ không phải là của khoản vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Nh ng bà D lại không lý giải đ ợc các lần nhận tiền của bà Ch thể hiện tại các phi u chi và sổ giao nhận tiền mà bà Ch đã cung cấp tại Tòa án cấp phúc thẩm. Mặt khác, tại phiên tòa bà D trình bày giữa bà và bà Ch ngoài giao dịch vay nợ đối với số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) ra thì không còn giao dịch nào khác. Đồng thời, bà D và bà Ch đều thừa nhận rằng việc vay tiền không thỏa thuận lãi suất, nh ng hi giải thích về số tiền đã nhận từ bà Ch thì bà D lại cho rằng đó là tiền lãi do bà Ch không trả đ ợc tiền gốc cho bà D nên bà Ch t trả lãi cho bà D và đ ợc thể hiện qua các phi u chi mà bà Ch cung cấp.

Xét thấy, lời trình bày của bà D là có s mâu thuẫn, đối với số tiền đã nhận từ bà Ch, lúc thì bà D trình bày bà nhận tiền của các khoản vay khác, các khoản vay đó giữa bà và bà Ch đã thanh toán xong, lúc thì bà D lại trình bày là các khoản tiền nhận từ bà Ch là của khoản tiền vay 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) vào ngày 05/02/2010. Tại phiên tòa bà Ch đề nghị HĐXX xem xét lại số tiền bà Ch đã thanh toán cho bà D vì từ sau năm 2010 bà Ch chỉ nợ bà D số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) mà bà Ch đã vi t lại giấy vay tiền ngày 5/2/2010.

Tuy nhiên, theo các tài liệu bà Ch cung cấp tại Tòa án cấp phúc thẩm bà D chỉ thừa nhận những số tiền bà nhận có chữ kí của bà và không có chỉnh sửa các con số, còn những số tiền bà Ch kê ra mà không có chữ kí của bà và có s chỉnh sửa con số thì bà không chấp nhận. Nh vậy theo s thừa nhận của bà D thì tổng số tiền bà D đã nhận từ bà Ch là 276.300.000 đồng (Hai trăm ảy m ơi sáu triệu a trăm nghìn đồng) nhiều hơn so với số tiền bà D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quy t. HĐXX xét thấy, cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà M. Đối với số tiền v ợt quá số tiền bà D khởi kiện là 76.300.000 đồng (bao gồm: Số tiền 64.800.000 đồng tiền bà D làm răng; 4.000.000 đồng bà Ch chuyển khoản cho bà D thông qua k toán theo biên lai ngày 19/3/2015; 2.000.000 đồng theo phi u chi ngày 10/6/2016; 2.000.000 đồng theo phi u chi ngày 6/2/2016; 3000.000 đồng theo phi u chi ngày 7/12/2015 và 500.000 đồng) HĐXX hông xem xét giải quy t.

Quá trình giải quy t vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà D rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu bà Ngô Minh Ch phải trả cho nguyên đơn số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng). Đối với số tiền này bà sẽ khởi kiện bà Ch tại Tòa án nhân dân thành phố Đ bằng một vụ án khác, bà D không yêu cầu giải quy t số tiền này tại Tòa án nhân dân huyện B. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của bà D là hoàn toàn t nguyện không trái với quy định của pháp luật nên cần đ ợc chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ đ ng theo quy định của pháp luật. Tr ờng hợp bà D khởi kiện bà Ch đối với số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) thì bà Ch có quyền đ a ra các tài liệu để chứng minh cho lời trình bày của mình.

Ngoài ra bà Ch còn cho rằng số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) theo giấy nhận nợ ngày 05/02/2010 có nguồn gốc do bà và bà D chốt lại từ số tiền vay gốc 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) của giấy nợ ngày 09/7/2009 và tiền lãi của số tiền này mà bà Ch ch a thanh toán đ ợc cho bà D. Tuy nhiên, lời trình bày của bà Ch hông đ ợc bà D thừa nhận, bà Ch lại không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện việc chốt nợ giữa bà và bà D tại giấy nhận nợ đề ngày 05/02/2010 để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do bà D đã rút yêu cầu đối với số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm m ơi triệu đồng) và cấp sơ thẩm đã đình chỉ đối với phần yêu cầu khởi kiện này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quy t.

Từ những phân tích trên HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn à Ngô Thị M là có căn cứ. Sửa toàn bộ bản án dân s sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 của T a án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Ph ớc. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D.

Quan điểm trình bày của đại diện theo ủy quyền của bị đơn à Ngô Thị M tại phiên tòa là có căn cứ nên đ ợc HĐXX chấp nhận.

Quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Bình Ph ớc tại phiên tòa có căn cứ nên đ ợc Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân s sơ thẩm: Do yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà D hông đ ợc chấp nhận nên bà D phải chịu án phí dân s sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Cụ thể: 200.000.000 đồng x 5% = 10.000.000 đồng (M ời triệu đồng)

Về án phí dân s phúc thẩm: Do háng cáo của ị đơn bà Ngô Thị M đ ợc chấp nhận nên bà M không phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì c c lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ hoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân s năm 2015;

Chấp nhận yêu cầu háng cáo của ị đơn à Ngô Thị M.

Sửa toàn ộ bản án dân s sơ thẩm số 04/2019/DS-ST ngày 27/02/2019 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

Căn cứ Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật dân s năm 2005;

Căn cứ Nghị quy t số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D về việc yêu cầu bị đơn à Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M phải thanh toán số tiền nợ 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) theo giấy nhận nợ vào ngày 09/7/2009.

Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà D khởi kiện bị đơn bà Ch đối với số tiền 250.000.000 đồng theo “giấy m ợn tiền” ngày 05/02/2010. Đ ơng s có quyền khởi kiện lại vụ án đối với yêu cầu đã r t theo quy định của pháp luật.

Về án phí dân s sơ thẩm:

Nguyên đơn à Nguyễn Thị Kim D phải chịu 10.000.000 đồng (M ời triệu đồng) đ ợc khấu trừ vào số tiền 7.800.000 đồng (Bảy triệu tám trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021536 ngày 16/10/2017 của Chi cục thi hành án dân s huyện B, tỉnh Bình Ph ớc. Số tiền còn lại bà D phải nộp là 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Bị đơn à Ngô Minh Ch và bà Ngô Thị M không phải chịu án phí dân s sơ thẩm.

Án phí dân s ph c thẩm:

Bị đơn à Ngô Thị M không phải chịu. Hoàn trả lại cho bà M số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009713, ngày 16/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân s huyện B, tỉnh Bình Ph ớc.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./

Cỡ chữ