- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HSST Ngày: 15/5/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI - THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trương Thị Ngoãn.
Bà Tạ Thị Minh Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2019/TLST- HS ngày 25 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:
Trần Văn H, sinh ngày 15/6/1990 tại xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Hoàng Thị T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: 02 tiền sự: Ngày 04/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 06 tháng, ngày 09/7/2018 bị cáo chấp hành xong; ngày 30/11/2018 bị Công an huyện Tiền Hải xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: Ngày 29/8/2013 bị đưa đi cơ sở giáo dục bắt buộc với thời hạn 02 năm theo Quyết định số 1800/QĐ-UB ngày 29/8/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình; ngày 18/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 21/2019/HSST, bản án này chưa có hiệu lực pháp luật. Bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam số 15/2019/QĐTG-HSST ngày 18/4/2019 của Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
+ Bị hại: Ông Đinh Văn K, sinh năm 1956
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện H, Thái Bình.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trương Văn M, sinh năm 1988
Nơi cư trú: Thôn C, xã N, huyện H Thái Bình.
- Anh Trần Văn Tr, sinh năm 1966
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện HThái Bình.
+ Người làm chứng:
- Anh Trịnh Xuân H, sinh năm 2000
- Anh Trần Quang T, sinh năm 2001
Đều cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
(Ông Khâm, anh M, anh Tr, anh H, anh Th vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01h00’ ngày 01/01/2019 trong lúc xem ti vi tại nhà anh Trần Văn Cao ở thôn Lộc Trung, xã Nam Hưng, huyện Tiền Hải thì Trương Văn M rủ Trần Văn H (là đối tượng đang có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. H đồng ý,M điều khiển xe mô tô BKS: 17K6-3512 chở H đi về hướng xã N, khi đến khu vực Trạm y tế xã N cả hai phát hiện trước cửa nhà ông Đinh Văn K có nhiều tấm cốp pha bằng kim loại dựng ở lề đường trước cửa nhà không có người trông coi. M dừng xe đứng chờ còn H đi bộ lại bê 02 tấm cốp pha bằng kim loại có cùng kích thước (150 x 55 x 4,5cm) đặt lên yên xe mô tô.M điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau giữ 02 tấm cốp pha đi về hướng xã Nam Hưng tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến một cửa hàng thu mua phế liệu thuộc địa phận thôn L, xã H, M dừng xe để H bê 02 tấm cốp pha vào bán thì có 01 nhóm thanh niên trong đó có anh Trần Quang T sinh năm 2001 và Trịnh Xuân H sinh năm 2000 đều thôn L, xã H đi qua đường hô lên “Trộm, trộm…”M và H bỏ lại 02 tấm cốp pha rồi lên xe bỏ chạy. Đi được một đoạn không thấy ai đuổi theo,M và H quay lại cửa hàng thu mua phế liệu mục đích để bán 02 tấm cốp pha vừa bỏ lại và đánh nhóm thanh niên vừa tri hô. Khi vừa dừng xe để lấy 02 tấm cốp pha thì bị một số người dân chạy ra hô “Trộm” và đuổi đánh.M bỏ chạy về hướng cánh đồng xã N; còn H bị người dân đuổi bắt rồi giao cho Ban Công an xã N cùng với vật chứng là chiếc xe mô tô BKS: 17K6-3512 và 02 tấm cốp pha.
Tại bản kết luận định giá tài sản ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Tiền Hải kết luận: Hai tấm kim loại cần định giá có giá trị còn lại là 240.000đồng.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào khoảng 01 giờ ngày 01/01/2019, bị cáo cùng với Trương Văn M đã trộm cắp hai tấm cốp pha bằng kim loại của ông Đinh Văn K để ở lề đường trước cửa nhà ông K. Sau đó thì bị người dân đuổi bắt, trước đó bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản tại Chùa S, xã N, huyện H và ngày 30/11/2018 bị cáo bị Công an huyện Tiền Hải xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 24/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Văn H về tội: “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 50, điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 07 tháng tù đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiện dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; điều106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho ông ĐinH Văn K 02 tấm cốp pha bằng kim loại và trả lại cho anh Trần Văn Tr chiếc xe mô tô BKS 17K6-3512.
- Về án phí: Áp dụng điều 135, điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Kiểm sát viên về bản luận tội.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng không khiếu nại hay có ý kiến gì. Nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án như:
- Đơn trình báo và lời khai của người bị hại là ông Đinh Văn K.
- Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu do Công an huyện Tiền Hải lập ngày 01/01/2019 tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Tiền Hải lập ngày 02/01/2019.
- Bản kết luận định giá tài sản do Hội đồng định giá tài sản huyện Tiền Hải lập ngày 10/01/2019. Kết luận: 02 tấm cốp pha bằng kim loại có kích thước (150 x 55 x 4,5cm) trị giá 240.000 đồng.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số:06/QĐ-XPVPHC ngày 30/11/2018.
- Lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trương Văn M và anh Trần Văn Tr.
- Lời khai của những người làm chứng là anh Trịnh Xuân H và anh Trần Quang T.
Từ những tình tiết và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h00’ ngày 01/01/2019, tại đoạn đường liên thôn khu vực trước cửa gia đình ông Đinh Văn K, lợi dụng sơ hở trong việc trông coi, quản lý tài sản, Trần Văn H (là đối tượng đang có 01 tiền sự về hành vi Trộm cắp tài sản) đã cùng với Trương Văn M trộm cắp 02 tấm cốp pha bằng kim loại của gia đình ông ĐinH Văn K trị giá 240.000 đồng.
Mặc dù tài sản bị cáo Trần Văn H trộm cắp của ông Đinh Văn K có giá trị dưới 2.000.000 đồng nhưng ngày 30/11/2018 bị cáo đã bị Công an huyện Tiền Hải xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo ngày 01/01/2019 đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
……………………………………………………………………………….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
. Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.
.Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về nhân thân, bị cáo Trần Văn H có nhân thân xấu, có một tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản và hai lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 18/4/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Người bị hại có đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét thấy bị cáo Trần Văn H có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 30/11/2018 bị cáo bị Công an huyện Tiền Hải xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho mình để tu chí làm ăn trở thành người lương thiện nhưng chỉ vì lợi ích trước mắt muốn có tiền tiêu xài cá nhân không bằng sức lao động chính đáng của bản thân mà trong một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, để răn đe giáo dục đối với bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung, nên cần áp dụng điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Trần Văn H không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố ông Đào Văn Khâm không có yêu cầu, đề nghị gì về việc bồi thường phần trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã quản lý một chiếc xe mô tô BKS:17K6-3512 và hai tấm cốp pha bằng kim loại có cùng kích thước (150x55x4,5). Xét thấy, chiếc xe mô tô BKS:17K6-3512 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Tr, khi Trương Văn M mượn xe, anh Tr không biếtM mượn xe đi để trộm cắp tài sản. Đối với hai tấm cốp pha bằng kim loại có cùng kích thước (150x55x4,5) mà Trần Văn H và Trương Văn M trộm cắp của ông ĐinH Văn K, đây là tài sản của ông Khâm. Vì vậy, áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự và điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Văn Tr và trả lại hai tấm cốp pha bằng kim loại có cùng kích thước (150x55x4,5) cho ông Đinh Văn K.
. Về các vấn đề khác của vụ án:Trong vụ án này còn có Trương Văn M là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Trần Văn H. Quá trình điều tra xác định trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, Trương Văn M chưa có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa có tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Tiền Hải không truy cứu trách nhiệm hình sự mà ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trương Văn M là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với anh Trần Văn Tr sinh năm 1966 trú tại thôn Trung Đồng, xã Nam Trung, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là người đã choM mượn chiếc xe mô tô BKS: 17K6-3512, tài liệu điều tra xác định anh Truyền không biết việcM mượn chiếc xe mô tô để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Truyền là có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 50, điều 38, điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106, khoản 2 điều 136, điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
3. Về vật chứng: - Trả lại cho Ông Đinh Văn K, sinh năm 1956, địa chỉ Thôn Đông Cường, xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình hai tấm cốp pha bằng kim loại có cùng kích thước (150x55x4,5).
- Trả lại cho anh Trần Văn Tr, sinh năm 1966, đỉa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện H, tỉnh Thái Bình chiếc xe mô tô BKS:17K6-3512.
(Vật chứng của vụ án đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiền Hải theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2019 giữa Công an huyện Tiền Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải).
4/ Về án phí: Bị cáo Trần Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/5/2019.
Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tiền Hải; - Công an huyện Tiền Hải; - Chi cục THADS huyện Tiền Hải; - Phòng KT Tòa án Tỉnh Thái Bình; - Bị cáo; Bị hại - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chu Thị Linh |