- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lộc Văn Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lộc Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HSST Ngày 16/8/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Thuận.
2. Ông Phạm Đức Tuế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đại Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2019/ HSST ngày 03 tháng 6 năm 2019; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/ QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lộc Văn Đ (Không có tên gọi khác), sinh ngày: 13/8/1996 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện tại: Xóm NM, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề ngH: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; không theo tôn giáo nào; giới tính: N; con ông Lộc Văn L và bà Lý Thị Kh; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm1991; trú tại: Phố TT, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và là người làm chứng trong vụ án: Anh Ma Khánh N, sinh năm 1997; Trú tại: Xóm ĐT, xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1979; trú tại: Phố TK, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
+ Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm1995; trú tại: Xóm DC, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Duy D, sinh năm 1978; trú tại Xóm SĐ 1, xã SP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Anh Lý Văn Ng, sinh năm 1977; trú tại: Xóm SĐ 1, xã SP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ, ngày 07/12/2018, Lộc Văn Định điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20C1-141.30 và anh Ma Khánh N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20C1-164.95, đi trên đường 264a từ hướng xã Bình Yên về xã BT. Khi đi đến địa phận xóm SĐ 1, xã SP thì bị va chạm với xe ô tô BKS: 29A-941.20 do anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1979, trú tại phố TK, thị trấn TC, huyện Đ điều khiển đang đỗ ngược chiều. Hậu quả: N và Định bị ngã, thương tích nhẹ, xe mô tô của N và Định đều bị hư hỏng nhẹ. Sau khi xảy ra va chạm Định, N, yêu cầu V bồi thường, V thừa nhận mình dừng đỗ xe sai qui định nên hứa sẽ bồi thường cho N, Định, V nói không mang tiền và gọi điện cho anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1991, trú tại phố TT, thị trấn TC, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xuống giải quyết giúp. Sau khi nghe điện của V, C điện cho Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1995, trú tại xóm DC, thị trấn TC, huyện Đ đi cùng.
Khoảng 30 phút sau, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô BKS: 20A – 034.21 chở H xuống đến nơi. Khi vừa xuống đến nơi, C trực tiếp gặp Định để nói chuyện. Hai bên vừa nói được vài câu, thì giữa C và N xảy ra mâu thuẫn, hai bên lời qua tiếng lại, C bật dậy dùng tay đấm N, N bỏ chạy, C đuổi theo N. Thấy vậy, Đ đứng dậy, vừa đứng dậy thì bị H đạp vào lưng làm Đ bị mất đà lao về phía trước, gần xe mô tô BKS: 20C1-141.30 của Đ, Đ rút chìa khóa xe trong túi quần, mở cốp xe lấy 01 con dao dài 46cm ,bản rộng 04cm, màu trắng, nhìn thấy bóng người xông vào mình (C đuổi đánh N quay lại), Đ vung dao, C giơ tay phải lên đỡ thì bị trúng vào tay, Đ tiếp tục vung dao chém về phía C thì C giơ cả 02 tay lên đỡ thì bị trúng vào cả 02 tay. Lúc này C gọi H “Híp ơi, anh bị chém rồi” thì H lao vào đánh Đ, giúp C, Định tiếp tục vung dao khuya chém về phía trước, H bị trúng tay. Lúc Đ đang khua dao về phía H, thì C vòng ra sau vào ôm Đ từ phía sau, Đ cầm dao vung chém về phía sau trúng vào đầu C. Nhìn thấy C ôm được Đ, H cũng lao vào giúp C. Khi cả Đ, H, C đang giằng co nhau thì N đến kéo H ra để cứu Đ, thì V lao vào đuổi N, N bỏ chạy. V quay lại xông vào giúp C và H đang vật lộn với Đ, giằng con dao của Đ thì N lại quay lại giúp Đ; thấy N quy lại, H đuổi đánh N. Định, V, C giằng co nhau và ngã xuống đất. Đ thoát được ra ngoài, vung dao chém về phía C, V thì bị rơi dao xuống đất và bỏ chạy. Còn anh C bị thương được đưa lên Bệnh viện đa khoa huyện Đ cấp cứu và điều trị từ ngày 07/12/2018 đến ngày 17/12/2018 thì được ra viện. Ngày 07/12/2018, anh C có đơn đề nghị giải quyết vụ việc.
Tại bệnh án ngoại khoa mã YT số: 2468 của Bệnh viện đa khoa huyện Đ xác định: anh Nguyễn Văn C khi nhập viện có vết thương ở cẳng tay – 02 bên; vết thương vùng đầu; Gãy xương trụ cẳng tay trái.
Ngày 17/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ quyết định trưng cầu giám định thương tích của Nguyễn Văn C.
Tại bản Kết luận giám định số 478/TgT của Trung tâm pháp y, sở Y tế Thái Nguyên kết luận:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Gãy 1/3 trên xương trụ cẳng tay (T), tỷ lệ 06 %.
- Sẹo vùng đỉnh, tỷ lệ 1%.
- Sẹo vùng chẩm, tỷ lệ 1%.
- Sẹo từ ngoài gan bàn tay (P), tỷ lệ 1%.
- Sẹo 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay (P), tỷ lệ 1%.
- Sẹo 1/3 dưới mặt ngoài cổ tay (P), tỷ lệ 1%.
- Sẹo 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng tay (T), tỷ lệ 1%.
Cộng lùi: 6 % + 1% + 1% + 1 % + 1 % + 1% + 1 % = 11,50% (làm tròn là 12%).
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 12% (mười hai phần trăm). Áp dụng theo phương pháp cộng lùi.
Cơ chế hình thành vết thương: Do vật có cạnh sắc gây nên.
Vật chứng liên quan đến vụ án: 01 Con dao dài 46cm ,bản rộng 04cm, màu trắng; 03 chiếc dép, 02 chiếc tông, 01 áo phông màu đen thu giữ tại hiện trường.
Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INOVA biển kiểm soát: 20A-034.21 của anh C; xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 20C1-141.30 của Lộc Văn Định; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát: 20C1-164.95 của Ma Khánh N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Lộc Văn Đ đã tự giác bồi thường cho anh C 60.000.000đ (sáu mười triệu đồng). Anh C không yêu cầu Đ phải bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đ.
Tại cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ, Lộc Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của Đ phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác do cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 27/CT-VKS ngày 31/5/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, truy tố bị cáo Lộc Văn Định ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử về tội: "Cố ý gây thương tích" theo qui định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lộc Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lộc Văn Định về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử :
Tuyên bố: Bị cáo Lộc Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lộc Văn Đ từ 24 đến 30 tháng tù cho hưởng án treo ; Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Về xử lý vật chứng : Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự ; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, màu trắng, dài 46 cm, bản rộng 04 cm; 03 chiếc dép, 02 chiếc tông; 01 chiếc áo phông màu đen.
- Về án phí: Bị cáo Lộc Văn Định phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận: Bị cáo Đ không tranh luận, bào chữa.
Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về việc xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự và người làm chứng trong vụ án có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị cáo, bị hại không có ý kiến gì về sự vắng mặt của họ. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hường đến việc giải quyết khách quan, toàn diện của vụ án; vì vậy, quyết định xét xử vắng mặt họ theo qui địnhtại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
3. Về hành vi phạm tội của bị cáo Lộc Văn Đ, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu hồi được và các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ khẳng định:
Khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 07/12/2018, tại trục đường tỉnh 264a thuộc khu vực xóm SĐ 1, xã SP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lộc Văn Định dùng dao dài 46cm, bản rộng 04cm chém nhiều nhát trúng vào đầu, cẳng tay trái; bàn tay, cổ tay, cẳng tay phải của anh Nguyễn Văn C. Gây thương tích cho anh C với tỷ lệ thương tật là 12%.
Hành vi nêu trên của Lộc Văn Đ đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự.
Điểm đ khoản 2 điều 134, Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Dùng…, hung khí nguy hiểm…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm
a, …
đ, Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”
Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lộc Văn Đ về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
4. Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe con người. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
5. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo Đ thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Vì vậy, Bị cáo Lộc Văn Đ được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, phía bị hại cũng có một phần lỗi; sau khi sự việc xảy ra, bị hại có đơn và tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
6. Căn cứ quyết định hình phạt và biện pháp cải tạo đối với bị cáo: Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần có một mức án phù hợp với nhân thân, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo gây ra và không cần thiết áp dụng biện pháp cải tạo cách ly đối với bị cáo mà có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo, răn đe phòng ngừa chung và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.
7. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Lộc Văn Đ đã bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khỏe cho bị hại 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng). Tại phiên tòa ngày hôm nay người bị hại là anh Nguyễn Văn C không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.
Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn C yêu cầu anh Ma Khánh N phải bồi thường thiệt hại tài sản do trong quá trình đánh nhau, N bỏ chạy nên đã va vào gương chiếu hậu xe ô tô của C làm gẫy, vỡ gương; giữa hai bên chưa thỏa thuận được mức bồi thường. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, anh C không yêu cầu Hội đồng xét xử, xem xét, giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
8. Về tài sản và vật chứng:
Xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA INOVA biển kiểm soát: 20A-034.21 của anh Nguyễn Văn Thắng (bố của Nguyễn Văn C); xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 20C1-141.30 của Lộc Văn Đ; xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển kiểm soát: 20C1-164.95 của Ma Khánh N, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
01 Con dao dài 46cm ,bản rộng 04cm, màu trắng của Lộc Văn Đ là công cụ phạm tội cần tịch thu, tiêu hủy; 02 chiếc dép của Ma Khánh N, 02 chiếc tông của Lộc Văn Đ; 01 chiếc dép và 01 áo phông màu đen của Nguyễn Văn C bỏ tại hiện trường cơ quan điều tra thu giữ được, những tài sản này đểu đã cũ, anh N, anh C và bị cáo Định đều không yêu cầu được lấy lại cần tiêu hủy.
9. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Định phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
10. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt, về án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 136; điểm g khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; Điều 326; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lộc Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1.Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lộc Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lộc Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã BT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục bị cáo trong thừi gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 Con dao dài 46cm ,bản rộng 04cm, màu trắng; 03 chiếc dép, 02 chiếc tông, 01 áo phông màu đen thu giữ tại hiện trường.
4. Về án phí: Căn cứ các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lộc Văn Đ phải chịu 200.000 VNĐ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hai; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Định Hoá; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - Công an huyện Đ (2bản); - Chi cục THADS huyện Đ; - Bị cáo; bị hại, - THA hình sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Kiểm |