vanban.org

Bản án 27/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An Tuyên án 18/04/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Tiến T 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06 tháng 3 năm 2019. Về án phí: bị cáo Trần Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Tiến T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội "Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHI LỘC
TỈNH NGHỆ AN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2019/HS-ST
Ngày 18 - 4 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHI LỘC, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Dũng

Ông Nguyễn Hồng Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Tiến T, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1994 tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; tên gọi khác: không; nơi cư trú: xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tiến H và bà Đặng Thị N; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06 tháng 3 năm 2019 đến nay. Có mặt.

Người bị hại: Ông Nguyễn Quốc N, sinh năm 1965; địa chỉ; xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 05 tháng 3 năm 2019, Trần Tiến T đi bộ từ nhà mình đến cửa hàng tạp hóa B (thuộc xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) để mua hàng. Khi đi ngang qua nhà ông Nguyễn Quốc N (cùng xóm) thì T nhìn thấy một chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-men Sport Scooter, không có biển số xe đang dựng trước sân nên đã nảy sinh ý định lấy chiếc xe bán lấy tiền tiêu xài. T đi vào sân nhà ông N, do chìa khóa vẫn để trong ổ khóa nên T đã bật chìa khóa, nổ máy điều khiển xe đi về phía xã H, huyện N, tỉnh Nghệ An. Trên đường đi, T vào một quán Internet bên đường để chơi game. Đến ngày 06 tháng 3 năm 2019, T đã đến Công an huyện Nghi Lộc để đầu thú và giao nộp chiếc xe máy điện nói trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 22/KL.ĐG ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện Nghi Lộc kết luận: chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-men Sport Scooter trị giá 8.500.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Tiến T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản Cáo trạng số 36/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc giữ quyền công tố và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Tiến T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật hình sự; phạt tiền bị cáo T từ 04 tháng tù đến 06 tháng tù.

Bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo nhận thức được việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Vì vậy, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghi Lộc, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghi Lộc, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh, khung hình phạt: bị cáo Trần Tiến T khai nhận khoảng 12 giờ ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại nhà ông Nguyễn Quốc N thuộc xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, bị cáo T đã có hành vi lén lút nhằm chiếm đoạt chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-men Sport Scooter màu đỏ đen trị giá 8.500.000 đồng của ông N. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng đã truy tố.

Về hình phạt chính: vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Nhưng xét: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đó là: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s); phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i); bị cáo đã tự nguyện giao nộp tài sản chiếm đoạt cho cơ quan điều tra để trả lại cho người bị hại (điểm b); sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú (khoản 2). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Cần tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Tiến T 45 ngày sau khi tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó bị cáo Trần Tiến T có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo T đã bị xử phạt tù nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại ông Nguyễn Quốc N đã nhận lại tài sản. Tại phiên tòa ông N vắng mặt nhưng trong Đơn xin xét xử vắng mặt ông N không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Chiếc xe máy điện nhãn hiệu X-men Sports Scooter màu đỏ đen là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Quốc N, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông N là phù hợp.

Về án phí: bị cáo Trần Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự .

Tuyên bố bị cáo Trần Tiến T phạm tội "Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Tiến T 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 06 tháng 3 năm 2019.

Về án phí: bị cáo Trần Tiến T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ