vanban.org

Bản án 27/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 16/05/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Không chấp nhận háng cáo của bị cáo Đinh Thị Bích N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N: 04 (bốn) tháng tù về tội "Bắt ng ời trái pháp luật". Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2016 đến ngày 28/11/2016. Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N: 04 (bốn tháng) tháng tù về tội "Cố gây th ơng tích". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Thị Bích N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Không chấp nhận háng cáo của bị cáo Đinh Thị Bích N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2019/HS - PT
Ngày 16/5/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- T phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình.

Các Thẩm phán: Ông Đỗ Văn Hiên.

Ông Phan Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Việt Anh - Th

Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công hai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 22/2019/TLPT - HS ngày 20 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo Đinh Thị Bích N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2019/HS - ST ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đinh Thị Bích N, sinh năm 1971 tỉnh Gia Lai; Nơi c trú: Thôn 4, xã Thăng H ng, huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông Đinh An (chết), con bà Lâm Thị L(chết), có chồng là Hà Quốc Đvà có 02 ng ời con; Tiền án; Tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Ch Prông xử phạt 6 tháng tù cho h ởng án treo về tội Đánh bạc, hiện đã đ ợc xóa án tích; Bị bắt tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 19/11/2016 đến ngày 28/11/2016. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa: Luật s Phạm N Quang, luật s của văn phòng Luật s Quang Phạm thuộc Đoàn luật s tỉnh Gia Lai là ng ời bào chữa cho bị cáo Đinh Thị Bích N. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Anh Nguyễn Minh T và chị Hà Thị Thảo Ng là vợ chồng cùng trú tại thôn 4, xã Thăng H ng, huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai. Vào tr a ngày 18/11/2016 cả hai cùng đi dự đám c ới tại nhà bạn ở thôn 4, xã Thăng H ng, huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai, đến hoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày thì anh T về nhà tr ớc để ngủ, còn chị Ng đi về sau, khi chị Ng về đến nhà thì giữa anh T và chị Ng xảy ra mâu thuẫn, anh T có dùng tay tát vào mặt và đấm vào ng ời làm chị Ng bị bầm tím cánh tay trái. Chị Ng gọi điện thoại cho bạn tên Thái Thị Kim Liên đến đ a chị Ng đi sơ cứu. Nhận đ ợc tin trên, chị Liên có gọi điện thoại cho Đinh Thị Bích N là mẹ đẻ của Hà Thị Thảo Ng, báo việc Ng bị chồng đánh, lúc này, Đinh Thị Bích N gọi điện thoại lại cho Ng để hỏi rõ sự việc thì nghe Ng nói chồng đi đám c ới uống r ợu về đánh, sau đó, N gọi điện thoại cho một đối t ợng tên Duy (hiện ch a xác định nhân thân lai lịch) nói: “Cô có một đứa con gái cứ bị thằng rể đi uống rượu về kiếm chuyện đánh nó, giờ con có bạn bè gì kêu đi 02 - 03 đứa xuống bắt thằng rể đi đâu đó để làm sao cho nó sợ nhưng đừng đánh nó”. Duy nói lại với N: “Cũng phải để cho bọn cháu đánh nó thì nó mới sợ chứ”, nghe vậy N đồng và hẹn gặp Duy ở xã Ia Din, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Đến hoảng 18 giờ 45 phút thì Duy cùng 3 ng ời nữa thuê xe taxi BKS: 81A - 08.137 của hãng Taxi Sun do tài xế Lò Hữu Tâm, tạm trú làng Plei Kép, ph ờng Đống Đa, T phố Plei u, tỉnh Gia Lai điều hiển chở đến xã Ia Din, huyện Đức Cơ để gặp N.

Sau đó Đinh Thị Bích N thuê xe ô tô của Hà N Tuấn trú tại xã Ia Din, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, chở N chạy tr ớc dẫn đ ờng Duy cùng 03 ng ời bạn của Duy đi về nhà của Ng. Khi về đến nhà Ng thì Đinh Thị Bích N đi vào nhà tr ớc, thấy Nguyễn Minh T con rể đang nằm ở ghế trong phòng hách, N quay ra nói với Duy đi vào hiêng T ra. Duy và những ng ời đi cùng vào trong nhà đánh T và kéo T ra xe taxi, trong lúc éo thì có đối t ợng đã dùng típ sắt đánh vào đầu T từ phía sau. Khi kéo T ra đ ợc đến cửa xe taxi thì một đối t ợng lên xe tr ớc dùng tay éo hai chân T vào xe, một đối t ợng xốc nách và dùng chân đạp vào l ng của T, rồi đẩy T lên xe. Sau hi éo Nguyễn Minh T lên xe các đối t ợng chở T lên lô cao su thuộc địa phận xã Ia Dơ , huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Trên đ ờng đi T bị những ng ời trên xe taxi dùng típ sắt đánh vào chân phải và dùng l ỡi lê đâm vào chân trái. Khi đến lô cao su các đối t ợng dùng chân đạp vào ngực của T, đối t ợng Duy dùng tay tát vào vùng mặt của T. Lúc này Đinh Thị Bích N đến có nói với T “Hồi chiều sao mày đánh con tao, mày nói gì tao rồi mày nói gì với ba bé Ng” xong Đinh Thị Bích N bắt T gọi điện thoại xin lỗi chồng N, ngay lúc này N đ a máy điện thoại của mình cho T gọi điện thoại cho chồng N để xin lỗi. Sau đó, N nói Hà N Tuấn chở Nguyễn Minh T về nhà, còn N lên xe taxi đi cùng với nhóm của Duy. Trên đ ờng đi N gọi điện thoại cho Tuấn hỏi T có bị th ơng gì hông? Tuấn nói T bị chảy máu ở đầu, khi đi đến địa phận xã Ia Din, huyện Đức Cơ N hông đi cùng nhóm của Duy nữa, mà lên xe của Hà N Tuấn. Sau hi lên xe của Tuấn, thấy T bị th ơng nên N cùng Tuấn đ a T đi cấp cứu ở bệnh viện đa hoa tỉnh Gia Lai rồi chuyển xuống bệnh viện đa hoa TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định điều trị đến ngày 23/11/2016 thì xuất viện.

Ngày 19/11/2016 Đinh Thị Bích N đã đến Công an huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai để đầu thú hai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản ết luận giám định pháp y về th ơng tích số 291/TTPY ngày 26/12/2016 của Trung tâm pháp y tỉnh Gia Lai ết luận tỉ lệ % tổn hại sức hỏe của Nguyễn Minh T là 05%.

Ngày 13/02/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Ch Prông ra quyết định số 36/QĐ-CSĐT tr ng cầu Phân Viện Pháp y quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh giám định: Cơ chế hình T và vật tác động gây ra vết th ơng cho Nguyễn Minh T.

Tại bản ết luận giám định pháp y về th ơng tích số 22/17/TgT ngày 03/03/2017 của Phân Viện Pháp y quốc gia tại TP. Hồ Chí Minh ết luận: Sẹo vùng đỉnh chẩm phải do vật tày có cạnh tác động gây nên; Sẹo vùng l ng do vật sắc hoặc sắc nhọn gây nên; Hai sẹo cẳng chân phải, hai sẹo cẳng chân trái do vật sắc nhọn hình gần tròn tác động gây nên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 01/2019/HS - ST ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Đinh Thị Bích N phạm tội: “ Bắt người trái pháp luật” và “Cố ý gây thương tích”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

- Căn cứ vào hoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 1999; Các điểm b; s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N 4 (bốn) tháng tù về tội "Bắt ng ời trái pháp luật".

-Căn cứ vào Điểm a hoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 ; Các điểm b; s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 54 ; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N 4 (bốn tháng) tháng tù về tội "Cố gây th ơng tích".

- Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt bị cáo N phải chấp hành là: 8 (tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt đi đi thi hành án. Đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2016 đến ngày 28/11/2016.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử l vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền háng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 25/01/2019 bị cáo háng cáo đề nghị giảm hình phạt, chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt cải tạo hông giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung nội dung háng cáo cho rằng bị cáo hông phạm tội “Cố gây th ơng tích”, bởi vì việc Duy và đồng bọn của Duy đánh gây th ơng tích cho T thì bị cáo hông biết, hông bàn bạc, hông chứng iến.

-Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau:

Căn cứ vào chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời hai của bị cáo, ng ời bị hại, ng ời làm chứng, ng ời liên quan, vật chứng thu giữ đủ cơ sở hẳng định. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và tuyên phạt bị cáo Đinh Thị Bích N về tội “Bắt ng ời trái pháp luật” và tội “Cố gây th ơng tích” theo hoản 1 Điều 123 và điểm a hoản 1 Điều 104 của BLHS năm 1999 với hình phạt cho mỗi tội là 04 (bốn) tháng tù là có căn cứ, đúng phát luật, hình phạt là phù hợp, t ơng xứng, đã xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với tội phạm. Tại phiên tòa, bị cáo háng cáo nh ng hông có căn cứ, hông có tình tiết giảm nhẹ nào mới vì vậy háng cáo của bị cáo là hông có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bác háng cáo của bị cáo, giữ Ng bản án hình sự sơ thẩm về phần tội danh, hình phạt đối với bị cáo Đinh Thị Bích N.

-Người bào chữa cho bị cáo Đinh Thị Bích N có ý kiến: Căn cứ vào chứng cứ tại hồ sơ vụ án, thấy rằng việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh, hung hình phạt, các điều hoản t ơng ứng của Bộ luật hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo Đinh Thị Bích N trong vụ án này là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp nên thống nhất với quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện iểm sát. Đối với việc bị cáo bổ sung nội dung háng cáo êu oan về tội “Cố gây th ơng tích” là do nhận thức, iến riêng của bị cáo do đó việc này đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:

Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Thị Bích N hông thừa nhận hành vi phạm tội “Cố gây th ơng tích” vì bị cáo cho rằng việc nhóm của Duy đánh T là do tự không có sự bàn bạc với bị cáo, bị cáo cũng hông biết, hông chứng iến việc nhóm của Duy đánh T; lời hai tại hồ sơ vụ án thể hiện việc bị cáo có bàn bạc, chứng iến Duy đánh T là do cán bộ điều tra tự viết vào biên bản lấy lời hai bị cáo hông đọc lại khi ký vào những biên bản này. Hội đồng xét xử thấy rằng: lời hai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hông có căn cứ vì bị cáo hông đ a ra đ ợc chứng cứ nào chứng minh có việc ép cung, dùng nhục hình hay cán bộ điều tra hông hách quan trong quá trình làm việc với bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn 09/12 nên có hả năng đọc, hiểu các biên bản lấy lời hai của cơ quan điều tra nên bị cáo thấy viết đúng với lời hai của mình thì mới . Do đó, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã thu thập đ ợc có tại hồ sơ vụ án, lời hai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phiên tòa sơ thẩm, lời hai của ng ời bị hại, ng ời làm chứng, ng ời liên quan, ết luận giám định th ơng tích, vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu hác đã đ ợc thẩm tra tại phiên tòa đủ cơ sở ết luận: Vào hoảng 18 giờ ngày 18/11/2016, do bực tức hi nghe tin con gái mình là Hà Thị Thảo Ngbị con rể là Nguyễn Minh T đánh, cùng với việc bực tức hi tr ớc đó T đã nhiều lần đánh Ng và nói Đinh Thị Bích N có quan hệ tình cảm bất chính nên Đinh Thị Bích N đã nhờ đối t ợng tên Duy (hiện ch a xác định đ ợc nhân thân, lai lịch) bắt giữ T để đe dọa thì Duy đồng ý, N cũng đồng với Duy hi Duy đềnghị là Duy sẽ đánh T để dằn mặt. Khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, Duy cùng 3 đối t ợng (ch a xác định đ ợc lai lịch) thuê xe taxi mang theo tu p sắt, l ỡi lê đến nhà T tại xã Thăng H ng, huyện Ch Prông, tỉnh Gia Lai dùng vũ lực hống chế bắt T đ a lên xe taxi chở đến lô cao su thuộc địa phận xã Ia Dơ , huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình bắt T và chở T từ nhà đến lô cao su thì nhóm của Duy đã dùng tay, chân đấm, đá vào ng ời T, dùng tuýp sắt, l ỡi lê đánh, đâm vào chân của T, bị cáo N cũng chứng iến việc nhóm của Duy đánh T tại lô cao su. Hậu quả T bị th ơng tích, tổn hại sức hỏe là 05%. Nguyễn Minh T đã có đơn yêu cầu hởi tố vụ án hình sự, đề nghị xem xét trách nhiệm hình sự đối với những ng ời đã bắt giữ, gây th ơng tích cho T.

Xét hành vi của Đinh Thị Bích N trong vụ án này thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức đ ợc việc nhờ ng ời bắt giữ T và thống nhất với các đối t ợng này về việc đánh T là trái pháp luật thế nh ng để thõa mãn bực tức cá nhân, với cách hành xử ngang ng ợc bị cáo đã bất chấp pháp luật nhờ các đối t ợng hông rõ nhân thân lai lịch bắt giữ T. Bị cáo thức đ ợc việc những đối t ợng này đánh T có thể gây ra th ơng tích cho T nh ng bị cáo vẫn đồng , hi chứng iến các đối t ợng này dùng hung hí đánh T bị cáo hông can ngăn mà để mặc ho hậu quả xảy ra. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm chung về hậu quả th ơng tích mà các đối t ợng này đã gây ra cho T với vai trò đồng phạm giúp sức. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trái phép đến quyền tự do về thân thể , xâm phạm đến sức hỏe của anh Nguyễn Minh T phạm vào tội “Bắt ng ời trái pháp luật” và tội “Cố gây th ơng tích” đ ợc quy định tại hoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 1999 và điểm a hoản 1 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tội danh, khung hình phạt, các điều hoản của Bộ luật Hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử, áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chuyển từ hình phạt tù có thời hạn sang hình phạt cải tạo hông giam giữ của bị cáo thấy rằng: Chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống bị cáo đã nhờ ng ời bắt giữ bị hại, gây th ơng tích cho bị hại, hành vi của bị cáo thể hiện thái độ xem th ờng pháp luật, coi th ờng quyền tự do thân thể, sức hỏe của ng ời hác, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa ph ơng. Bị cáo có nhân thân xấu từng bị ết án về tội đánh bạc điều này cho thấy thức chấp hành pháp luật của bị cáo ém. Do đó, cần xử l bị cáo nghiêm hắc, cách ly bị cáo hỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Khi l ợng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nh sau hi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo T hẩn hai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, bị cáo đã bồi th ờng một phần thiệt hại cho ng ời bị hại, bị cáo có mẹ là ng ời có công với n ớc, bị cáo là phụ nữ hiện đang phải điều trị bệnh, ng ời bị hại cũng có một phần lỗi là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s hoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử thấy rằng, hình phạt 04 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo cho mỗi tội là phù hợp, t ơng xứng, đã xem xét toàn diện các vấn đề, đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng đối với bị cáo và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo háng cáo nh ng hông cung cấp thêm đ ợc tình tiết giảm nhẹ nào mới, bị cáo hông khai báo T hẩn về hành vi đối với tội “Cố gây th ơng tích” do đó háng cáo của bị cáo là không có căn cứ nên hông đ ợc chấp nhận.

Do háng cáo hông đ ợc chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Không chấp nhận háng cáo của bị cáo Đinh Thị Bích N, giữ nguyên bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt.

- Căn cứ vào hoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự năm 1999; Các điểm b; s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N: 04 (bốn) tháng tù về tội "Bắt ng ời trái pháp luật". Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2016 đến ngày 28/11/2016.

-Căn cứ vào Điểm a hoản 1 Điều 104 của Bộ luật hình sự năm 1999 ; Các điểm b; s hoản 1, hoản 2 Điều 51; Điều 54 ; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Đinh Thị Bích N: 04 (bốn tháng) tháng tù về tội "Cố gây th ơng tích".

- Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đinh Thị Bích N phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là: 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Đ ợc hấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2016 đến ngày 28/11/2016.

[2]. Về án phí: Áp dụng hoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc Hội Quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án:

Bị cáo Đinh Thị Bích N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[3]. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm hông có háng cáo, háng nghị có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ