- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án H và C"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Ngọc H về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Võ Minh C.
- Căn cứ chính? Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST Ngày: 11-6-2019 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đào Văn Nô;
2. Ông Lê Bá Quyền
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên tiến hành phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 62/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Ngọc H, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ 2, Ấp 3, xã V, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ Minh C, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ 2, Ấp 3, xã V, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 3 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đỗ Ngọc H trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Ngọc H và ông Võ Minh C chung sống trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 2008, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã V, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27, ngày 17/4/2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2015 đến nay vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, lối sống, không có sự đồng cảm trong việc giải quyết các vấn đề trong gia đình và ông C còn có hành vi đánh đập bà H. Vợ chồng đã có nhiều biện pháp để giải quyết mâu thuẫn nhưng không được. Bà H và ông C đã ly thân từ đầu năm 2018 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà Đỗ Ngọc H yêu cầu được ly hôn với ông Võ Minh C.
+ Về con chung: Bà H và ông C có 02 con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2008 và Võ An K, sinh ngày 30/3/2015. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2008 và Võ An K, sinh ngày 30/3/2015; bà H không yêu cầu ông C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung và vay nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa bà Hoan trình bày: Bà H vẫn giữ nguyên lời trình bày về quan hệ hôn nhân, tài sản chung và nợ chung nhưng việc nuôi con chung bà H thay đổi như sau: Do cháu Võ Tấn Đ có nguyện vọng ở với cha nên bà Hoan đồng ý giao cháu Đ cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ An K. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn ông Võ Minh C đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên tham gia phiên toà phát biểu quan điểm như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Ngọc H, cụ thể như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Đỗ Ngọc H được ly hôn với ông Võ Minh C.
+ Về con chung: Do cháu Võ Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2008 hiện đang sống với cha và có nguyện vọng sống với cha nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Võ Tấn Đ cho ông Võ Minh C được trực tiếp nuôi dưỡng; cháu Võ An K hiện còn nhỏ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đỗ Ngọc H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ An K.
+ Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
+ Vấn đề tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thị xã Tân Uyên và nguyên đơn đề nghị Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn ông Võ Minh C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa, nhưng ông C vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt ông C.
- Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Ngọc H và ông Võ Minh C là những người đủ điều kiện kết hôn, chung sống với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã V, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 27, ngày 17/4/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Theo kết quả xác minh của Tòa thì ông C còn có hành vi đánh bà H nên bà H đã về gia đình nhà mẹ đẻ để sinh sống. Từ đầu năm 2018 đến nay vợ chồng đã ly thân. Ông C được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để hoà giải, tham gia phiên toà nhưng ông C không đến và không có ý kiến, điều này cho thấy ông C không quan tâm và cũng không có thiện chí để Tòa án hòa giải, vợ chồng đoàn tụ cùng nhau nuôi dạy con cái. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H yêu cầu được ly hôn với ông C là có cơ sở theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2008 và Võ An K, sinh ngày 30/3/2015. Hiện nay, cháu Đ và cháu Khang hiện đang sống cùng với ông C. Khi ly hôn bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ An K và đồng ý để ông C trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Tấn Đạt. Cháu Đ có nguyện vọng sống cùng với ông C. Xét thấy ý kiến của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của con chung đủ 07 tuổi trở lên, phù hợp với các Điều 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Võ An K cho bà Đỗ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Võ Tấn Đ cho ông Võ Minh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Khoản 8 Điều 27 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá XII về án phí, lệ phí Toà án thì nguyên đơn bà Đỗ Ngọc H phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 92, 266, 273 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 17, 19, 56, 81, 82, 83, 84 và 85 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đỗ Ngọc H về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con với bị đơn ông Võ Minh C.
2. Bà Đỗ Ngọc Hoan được ly hôn với ông Võ Minh C.
3. Về con chung: Giao con chung tên Võ An K, sinh ngày 30/3/2015 cho bà Đỗ Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung tên Võ Tấn Đ, sinh ngày 22/02/2008 cho ông Võ Minh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Bà Đỗ Ngọc H và ông Võ Minh C đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
4. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
5. Về tài sản chung và vay nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
6. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đỗ Ngọc H phải nộp số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0014882 ngày 27/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bà Đỗ Ngọc H không phải nộp thêm.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương (01); - TAND tỉnh Bình Dương (01); - VKSND thị xã Tân Uyên (01); - THADS thị xã Tân Uyên (01); - THADS (01); - UBND xã V, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương (01); - Các đương sự (02); - Lưu: HS, VT (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Hiền |