- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim L và anh Nguyễn Hùng C được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 27/2019/HNGĐ - ST Ngày: 27/5/2019 V/v tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đại Thắng
2. Ông Châu Văn Bằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Vủ Thị Diễm My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang
Ngày 27 tháng 5 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2019, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Kim L, sinh năm 1988; Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh H (có mặt)
Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng C, sinh năm 1980; Trú tại: ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn ngày 15/01/2019, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Kim L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Hùng C làm lễ cưới và chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2008. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh C mỗi lần đi uống rượu về là kiếm chuyện cự cải và còn đánh chị L, từ đó dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 7/2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai.
Về con chung: có 02 con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 15/8/2007 và Nguyễn Thành P, sinh ngày: 31/12/2008.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Không có.
Nay chị L yêu cầu được ly hôn với anh C; Về con chung: chị L yêu cầu nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 15/8/2007 và Nguyễn Thành P, sinh ngày: 31/12/2008, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung; Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Hùng C trình bày:
Anh C thừa nhận về quan hệ hôn nhân; con chung như chị L trình bày. Về nguyên nhân mâu thuẫn là do chị L đọc tin nhắn điện thoại của anh C, mà điện thoại là của bạn anh C cho mượn sử dụng, nên chị L hiểm nhầm dẫn đến ghen tuông, vợ chồng xảy ra cự cải, trong lúc cự cải anh C giận quá có đánh chị L. Vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 07/2018 đến nay, do chị L bỏ đi thành phố H làm, anh có tìm cách liên lạc với chị L nhưng không được.
Nay chị L yêu cầu ly hôn anh C không thống nhất ly hôn, muốn vợ chồng đoàn tụ để lo cho các con; Về con chung: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 15/8/2007 và Nguyễn Thành P, sinh ngày: 31/12/2008 nếu chị L kiên quyết ly hôn thì tùy các con quyết định muốn sống với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng; Về tài sản chung; Về nợ chung: không có, không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim L và anh Nguyễn Hùng C chung sống với nhau vào năm 2006, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào năm 2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không còn tin yêu nhau nên bất đồng quan điểm và vợ chồng không thật sự quan tâm chăm sóc cho nhau, từ đó dẫn đến vợ chồng không còn hạnh phúc và chính thức ly thân nhau từ tháng 7/2018 đến nay, trong suốt quá trình ly thân vợ chồng cũng không hàn gắn đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án chị L vẫn kiên quyết ly hôn, anh C không có biện pháp nào để vợ chồng đoàn tụ. Từ đó cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp.
Về con chung: 02 con chung là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 15/8/2007 và Nguyễn Thành P, sinh ngày: 31/12/2008, chị L yêu cầu được nuôi 02 con chung, về việc nuôi con anh C để các con tự quyết định, muốn sống với ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng, trong quá trình xem xét giải quyết vụ án thì cháu Đ và cháu P đều có nguyện vọng là được tiếp tục sống chung với chị L. Vì vậy xét về điều kiện mọi mặt nhằm bảo đảm quyền lợi cho cháu Đ, cháu P và cũng cần thiết ổn định môi trường sống cho hai cháu có anh có em, tạo điều kiện phát triển về mọi mặt cho các cháu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Anh C chưa phải cấp dưỡng nuôi con, do chị L chưa yêu cầu. Dành quyền thăm và chăm sóc con chung cho anh C không ai được cản trở
Về tài sản chung: Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Các Điều 35, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Kim L và anh Nguyễn Hùng C được ly hôn.
Về con chung: Chị Nguyễn Kim L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày: 15/8/2007 và Nguyễn Thành P, sinh ngày: 31/12/2008, đến khi các con trưởng thành (tròn 18 tuổi). Anh Nguyễn Hùng C chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom và chăm sóc con chung cho anh C không ai được cản trở.
Về tài sản chung; Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Kim L phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0018071 ngày 14/03/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Chị L đã nộp đủ án phí phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND h. Châu Thành; - THA h. Châu Thành; - UBND xã Đông Phú; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Phạm Tiến Dũng |