vanban.org

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn M được ly hôn chị Đỗ Thị Viên T. Về con chung: Anh Nguyễn Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu: Nguyễn Đỗ Gia B, sinh ngày: 23/11/2009. Chị Đỗ Thị Viên T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về bạo lực gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Văn M - Đỗ Thị Viên T"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 28-5-2019
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C

TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Huy

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Dư

2. Bà Lê Huyền Điệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Nga là Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh Khánh Hòa tham

gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C. Hội

đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý

số: 39/2019/TLST-HNGĐ, ngày 06 tháng 3 năm 2019, về: “Ly hôn” theo quyết

định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm

2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm: 1987

Nơi cư trú: Tổ dân phố Linh Trung, phường Cam Linh, thành phố C, tỉnh

Khánh Hòa. (Có mặt)

Bị đơn: Chị Đỗ Thị Viên T, sinh năm: 1988

Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố Linh Trung, phường Cam Linh, thành phố

C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01/3/2019, bản khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Nguyễn Văn M trình bày: Anh và chị T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn và được UBND phường Cam Linh, thị xã C (nay là thành phố C) cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 40/2010, quyển số 01/2008, cấp ngày 18/6/2010.

Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chị T sống không hòa hợp với gia đình nhà chồng, có thái độ không tốt với anh nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, trong những lúc cãi vã đỉnh điểm có đánh nhau và chị T đã bỏ nhà đi vài lần nhưng khi quay về chung sống với nhau để nuôi dạy con cái thì vợ chồng lại phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống vợ chồng ngày càng nặng nề và gay gắt hơn, hiện nay vợ chồng không còn chung sống với nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đỗ Thị Viên T.

Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Gia B, sinh ngày: 23/11/2009 và cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 25/8/2015.

Anh M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Gia B và giao cháu Nguyễn Gia L cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Về tài sản chung: Anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không nợ ai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa để tham gia hòa giải và xét xử là vi phạm quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 BLTTDS, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS xét xử vắng mặt bị đơn.

Về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh M. Về con chung: Anh M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Gia B, chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia L và ghi nhận sự tự nguyện của anh M về việc không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con là có cơ sở phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận; Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét; Về nợ chung: Không có. Anh M phải nộp 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, trừ vào tiền tạm ứng án phí.

Tài liệu chứng cứ trong trong hồ sơ vụ án:

Giấy chứng nhận kết hôn.

Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Đỗ Gia B, Nguyễn Gia L.

Chứng M nhân dân mang tên Nguyễn Văn M.

Sổ hộ khẩu mang tên chủ hộ Nguyễn Thị Sương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về sự vắng mặt của bị đơn: Chị Đỗ Thị Viên T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt chị T.

Anh Nguyễn Văn M yêu cầu ly hôn chị Đỗ Thị Viên T. Yêu cầu của anh M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Anh M và chị T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2009, đến 2010 đăng ký kết hôn và được được UBND phường Cam Linh, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh Khánh Hòa cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 40/2010, quyển số 01/2008, cấp ngày 18/6/2010. Do đó, hôn nhân giữa anh M và và chị T là hôn nhân hợp pháp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau nhưng đến năm 2015 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, xảy ra xung đột, thiếu trách nhiệm vun đắp gia đình dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn chung sống với nhau, không còn quan tâm nhau, anh M xác định tình cảm với chị T không còn nữa nên anh kiên quyết ly hôn chị Đỗ Thị Viên T.

Mặt khác, từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay, chị T không đến tòa để tham gia hòa giải, xét xử, trình bày ý kiến và không có biện pháp để cải thiện, hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, điều đó chứng tỏ chị thờ ơ, bỏ mặc quan hệ hôn nhân giữa chị và anh M.

Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh M yêu cầu được ly hôn chị T là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Về con chung: Anh và chị T có 02 con chung là cháu Nguyễn Đỗ Gia B, sinh ngày: 23/11/2009 và cháu Nguyễn Gia L, sinh ngày 25/8/2015.

Anh M yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Gia B và giao cháu Nguyễn Gia L cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.

Xét: Việc giao con chung cho ai nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con. Cháu Nguyễn Đỗ Gia B nay còn nhỏ, đang chung sống với anh M và có nguyện vọng tiếp tục được chung sống với anh M. Cháu Nguyễn Gia L hiện nay là nữ do chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, cả hai cháu đều có nơi ở ổn định. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T không đến Tòa để trình bày yêu cầu về người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy anh M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Gia B, chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Gia L là có căn cứ, phù hợp với Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh M về việc không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, anh M và chị T có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn M.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn M được ly hôn chị Đỗ Thị Viên T.

2. Về con chung: Anh Nguyễn Văn M được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu: Nguyễn Đỗ Gia B, sinh ngày: 23/11/2009. Chị Đỗ Thị Viên T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu: Nguyễn Gia L, sinh ngày 25/8/2015.

Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Văn M về việc không yêu cầu chị Đỗ Thị Viên T cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về “ly hôn” nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh M đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: AA/2018/0000282 ngày 01/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C. Anh Nguyễn Văn M đã nộp đủ.

Anh Nguyễn Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Chị Đỗ Thị Viên T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ