vanban.org

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về nuôi con chung: Giao con chung Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến đủ tuổi thành niên. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ không yêu cầu, nên HĐXX không x… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự
THỊ XÃ BUÔN HỒ
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2019/HNGĐ-ST
Ngày 15-10-2019
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cao Anh Tuấn.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hoàng Vạn Sinh.

Bà Nguyễn Thị Quỳnh Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Thế Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toản – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 15/10/2019, tại phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 128/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2019, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐST- HNGĐ ngày 10/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/7/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Anh Đ, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà 1422 H, tổ dân phố H, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt)

- Bị đơn: Anh Phan Tấn S, sinh năm 1979; địa chỉ: Số nhà 1184 H, tổ dân phố T, phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 20/6/2019 và các lời khai tại các buổi làm việc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Tôi và anh Phan Tấn S đi đến hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/12/2007. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến năm 2010 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Phan Tấn S thường xuyên cờ bạc, trai gái, chúng tôi sống ly thân được 02 năm và anh Phan Tấn S đã bỏ đi từ năm 2012 cho đến nay và Tòa án nhân dân thị xã B tuyên bố anh S mất tích theo quyết định số 01/2019/QĐDS-ST ngày 12/6/2019. Xét thấy tình cảm không còn nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thị xã B giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Phan Tấn S.

- Về con chung: Chúng tôi có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008, hiện nay cháu H đang ở với tôi. Tôi có nguyện vọng xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Phan Tấn S đã được Tòa án nhân dân thị xã B tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2019/QĐDS-ST ngày 12/6/2019, và Tòa án cũng tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp hành đúng quy định pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với anh Phan Tấn S. Về con chung giao con chung cháu Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008 cho chị Nguyễn Thị Anh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng cháu H đến tuổi trưởng thành, ghi nhận chị Đ không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về khởi kiện và thụ lý vụ án: Ngày 20/6/2019 chị Nguyễn Thị Anh Đ nộp đơn khởi kiện, ngày 08/7/2019 Tòa án thụ lý việc khởi kiện của chị Đ là đúng trình tự thủ tục theo Điều 191, Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã B theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về trình tự thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn anh Phan Tấn S đã được Tòa án tuyên bố mất tích theo Quyết định số 01/2019/QĐDS-ST ngày 12/6/2019 không trở về địa phương nên không tham gia tố tụng tại Tòa án, do đó Tòa án giải quyết vụ án theo những căn cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Ngày 27/9/2019 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt nên hoãn phiên tòa và ấn định xét xử lại vào ngày 15/10/2019 nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S là phù hợp với điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Veà quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh S tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 21/12/2007. Thời gian đầu vợ chồng sống chung hạnh phúc, đến năm 2010 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Phan Tấn S thường xuyên cờ bạc, trai gái, anh S, chị Đ sống ly thân được 02 năm và anh Phan Tấn S đã bỏ đi từ năm 2012 cho đến nay, không để lại tin tức và đã được Tòa án nhân dân thị xã B tuyên bố mất tích theo quyết định số 01/2019/QĐDS-ST ngày 12/6/2019. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Phan Tấn S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cho chị Nguyễn Thị Anh Đ và anh Phan Tấn S ly hôn là phù hợp với Điều 51, khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng:

Về nuôi con chung: Chị Đ, anh S có 01 con chung là cháu Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008. Hiện nay cháu H đang sinh sống, học tập ổn định cùng với chị Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi trưởng thành là bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu. Anh Phan Tấn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, 191, 192, 195; điểm b khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 56 và các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Nguyễn Thị Anh Đ được ly hôn với anh Phan Tấn S.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Phan Nguyễn Quốc H, sinh ngày 17/6/2008 cho chị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến đủ tuổi thành niên. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

+ Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Đ không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đ không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị Anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2019/0000128 ngày 05/7/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ